Văn mẫu

Phân tích khổ 3 Tây Tiến

1. Hướng dẫn phân tích khổ 3 Tây Tiến

1.1 Phân tích đề bài

– Yêu cầu của đề bài: phân tích nghệ thuật và nội dung trong 4 câu thơ ở khổ thơ thứ 3 bài thơ Tây Tiến.

– Dạng bài: dạng bài nghị luận văn học (tức là phân tích một đoạn trích trong một tác phẩm).

– Vấn đề nghị luận: những nội dung thuộc khổ thơ thứ 3 trong bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng

– Phạm vi dẫn chứng và tư liệu: các hình ảnh, câu nói, căn cứ, chi tiết… nằm trong phạm vi khổ thơ 3 của bài thơ Tây Tiến.

1.2 Sơ đồ tư duy

Các tác phẩm văn học thường rất dài và khó ghi nhớ. Bởi vậy muốn học được các tác phẩm thì phải cần đến công cụ hỗ trợ đặc biệt. Một trong số đó phải kể đến sơ đồ tư duy, nó sẽ giúp các em nắm bắt được ý chính một cách dễ dàng nhất. Dưới đây là một mẫu sơ đồ tư duy VUIHOC sưu tầm được về phân tích khổ 3 Tây Tiến.

2. Lập dàn ý phân tích khổ 3 Tây Tiến

a) Mở bài phân tích đoạn 3 Tây Tiến

– Giới thiệu chung về tác giả Quang Dũng cùng với bài thơ Tây Tiến.

– Dẫn dắt vào vấn đề chính cần được phân tích và trích dẫn khổ thơ thứ 3 vào bài.

b) Thân bài phân tích Tây Tiến đoạn 3

  • Khái quát chung

– Hoàn cảnh ra đời: Là một bài thơ sáng tác ngay sau khi tác giả rời xa đơn vị cũ. Vào cuối năm 1948, ở Phù Lưu Chanh, Quang Dũng đã nhớ lại về những kỉ niệm của đoàn quân Tây Tiến và sau đó viết thành bài thơ Tây Tiến.

– Nội dung của bài thơ: Là nỗi nhớ khôn xiết về những ngày tháng ở chiến trường, về con người và về thiên nhiên rừng núi Tây Bắc bằng cả tấm lòng chân tình của chính tác giả.

– Vị trí đoạn trích: Là đoạn thơ thứ ba thuộc bài thơ Tây Tiến, đoạn thơ nối tiếp mạch cảm xúc của toàn bài thơ.

– Nội dung đoạn trích: Chân dung những người lính Tây Tiến cùng với sự hi sinh hết sức bi tráng của họ.

  • Những nội dung cần phân tích

– Chân dung: Những chi tiết được tả thực đã khắc họa nên một diện mạo vô cùng độc đáo, đồng thời cũng phản ánh được hiện thực gian khổ, đầy những thiếu thốn và bệnh tật nơi chiến trường. Tác giả không có ý định né tránh hiện thực, và điều đó thể hiện được tấm lòng yêu nước, căm giận giặc mãnh liệt vô cùng của những người lính Tây Tiến

– Tâm hồn hào hoa, lãng mạn lại có phần kiêu hùng: Qua những từ ngữ “dữ oai hùm”, “mắt trừng gửi mộng qua biên giới” ta có thể thấy được khí thế và lòng quyết tâm của những người lính Tây Tiến.

Lí tưởng sống cao đẹp: Không trốn tránh trước hiện thực tàn khốc “Áo bào thay chiếu anh về đất”, tác giả đã thể hiện sự hy sinh của những người lính một cách vừa thanh thản, thầm lặng lại vô cùng cao cả, gây được xúc động trong lòng người, lay động đến cả thiên nhiên.

  • Nghệ thuật

– Bút pháp tả thực khắc họa lên chân dung của những người lính với hiện thực đầy gian khổ nơi chiến trường; sử dụng từ Hán – Việt cổ xưa để tăng thêm phần thành kính, trân trọng với những người đã mất; nói giảm nói tránh để thể hiện rõ lí tưởng cao đẹp của người chiến sĩ trong công cuộc chiến đấu bảo vệ đất nước, khắc họa nên sự hy sinh cao cả, nhấn mạnh những mất mát đã xảy ra nơi chiến trường

– Nhận xét: Với giọng thơ lúc trang trọng, lúc lắng xuống, cảm xúc thể hiện dạt dào, hình ảnh của những người lính Tây Tiến hiện lên rõ nét với một vẻ đẹp vô cùng bi tráng, in sâu vào lòng người như một bức tượng đài vĩnh cửu về người lính không thể quên được.

c) Kết bài phân tích khổ 3 Tây Tiến

Khẳng định và đánh giá về những câu thơ thuộc khổ 3 phía trên.

Mở rộng thêm vấn đề: Nêu lên những suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về hình ảnh của những chiến sĩ Tây Tiến được thể hiện rất rõ qua khổ thơ phía trên.

>> Xem thêm: Soạn bài Ngữ Văn 12 – Tổng hợp đầy đủ chương trình Văn 12

3. Bài phân tích khổ 3 Tây Tiến chi tiết

3.1 Phân tích đoạn 3 Tây Tiến ngắn gọn

Quang Dũng là một trong những người nghệ sĩ rất đa tài. Ông có khả năng vẽ tranh, làm thơ và còn biết cả sáng tác nhạc. Thơ ca của Quang Dũng luôn nổi bật với một hồn thơ vừa lãng mạn, hào hoa lại thắm đượm nghĩa tình cùng tinh thần dân tộc sâu sắc. Bài thơ Tây Tiến là một trong những bài thơ đã thể hiện được cái nghĩa tình đó của Quang Dũng.

Ban đầu bài thơ có nhan đề là “Nhớ Tây Tiến”. Sau đó bỏ chữ “nhớ” và giữ lại “Tây Tiến” vì Quang Dũng cho rằng bài thơ này vốn đã luôn dạt dào nỗi nhớ, người đọc có thể cảm nhận được. Bài thơ được sinh ra trong những năm tháng không thể quên được, từ một môi trường sống và chiến đấu chứa đầy kỉ niệm của cuộc đời những người lính

Bài thơ được sáng tác vào năm 1948 ở Phù Lưu Chanh (thuộc Hà Tây), khi ông đã chuyển công tác sang một đơn vị khác và nhớ lại những kỉ niệm với đơn vị cũ là đoàn quân Tây Tiến. Bài thơ bộc lộ nỗi nhớ của tác giả về những kỉ niệm với thiên nhiên rừng núi Tây Bắc với đơn vị cũ của mình. Trong tác phẩm, hình tượng của những chiến sĩ Tây Tiến được thể hiện rất rõ thông qua khổ thơ thứ 3 của bài thơ:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Sông Mã gầm lên khúc độc hành!

Đoàn binh Tây Tiến là nơi lưu giữ mãi mãi trong trái tim nhà thơ Quang Dũng những tư tưởng và kỉ niệm tốt đẹp nhất một thời thanh xuân. Đó là đơn vị được thành lập vào năm 1947 do Quang Dũng là đại đội trưởng. Đoàn quân có nhiệm vụ kết hợp với bộ đội Lào để bảo vệ biên giới Việt – Lào. Các chiến sĩ trong đội quân cũng chủ yếu là từ những người học sinh, sinh viên và dân lao động thành thị thuộc tất cả các ngành nghề khác nhau hợp lại thành một đội quân vô cùng đoàn kết. Cuộc sống nơi chiến địa dẫu có gian khổ, thiếu thốn vô cùng nhưng trong tâm trí họ vẫn luôn ngời sáng lên những phẩm chất anh bộ đội cụ Hồ với tinh thần tràn đầy lãng mạn, lạc quan và không sợ khó khăn, vất vả. Hình tượng những người lính Tây Tiến xuất hiện lên với một vẻ đẹp đậm chất bi tráng:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Hình ảnh “không mọc tóc” gợi đến một sự thật nghiệt ngã của hoàn cảnh sinh sống và chiến đấu của những người lính Tây Tiến nhưng lại mang trong mình khí chất ngang tàng. Hình ảnh “Quân xanh màu lá” được sử dụng với nghệ thuật đối lập “Không mọc tóc”, “quân xanh” – “dữ oai hùm” gợi lên một dáng vẻ xanh xao ốm yếu tiều tụy vì căn bệnh sốt rét. Tuy nhiên, hơn hết từ trong sâu thẳm con người họ vẫn toát ra một dáng vẻ oai phong như những con hổ chốn rừng thiêng, làm nổi bật được tính chất dũng cảm trong máu của những người lính.

Sự oai phong lẫm liệt ấy còn được thể hiện thông qua ánh mắt. “Mắt trừng” chính là ánh mắt vô cùng dữ dội, rực cháy lên những căm hờn, mang mộng ước sẽ giết sạch được kẻ thù. Họ rất dũng cảm, kiên cường, đứng trước mũi súng của quân thù nhưng vẫn hiên ngang, những nét đẹp bộc lộ sự lãng mạn vẫn rất rõ nét, sâu thẳm trong tâm tưởng họ: “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”, Quang Dũng đã không tiếc những ngôn từ hay, ông đã dành những từ ngữ rất đỗi trang trọng khi nhắc đến vẻ đẹp của các cô gái Hà Nội: bên trong dáng vẻ oai hùng và dữ dằn ấy chính là trái tim, là tâm hồn đầy khao khát với cuộc đời:

Đọc thêm:  Phân tích Rừng Xà Nu của Nguyễn Trung Thành

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Là những câu thơ thể hiện một cách sâu sắc nhất vẻ đẹp về sự hy sinh của những người chiến sĩ Tây Tiến. Các từ Hán Việt cổ kính, trang trọng được sử dụng như “biên cương, mồ viễn xứ” tạo nên không khí trang trọng, âm hưởng bi hùng cũng làm giảm đi những hình ảnh của nấm mồ chiến sĩ nơi thiên nhiên khắc nghiệt rừng hoang biên giới lạnh lẽo, hoang sơ. Vẻ đẹp bi tráng còn được thể hiện thông qua khí phách của người lính, lí tưởng anh hùng lãng mạn, coi cái chết chỉ nhẹ tựa lông hồng, quyết tâm hiến dâng và hy sinh sự sống cho đất nước được hòa bình, độc lập:

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Từ ngữ ước lệ “áo bào” gợi tả vẻ đẹp bi tráng của sự hy sinh cao cả: nhìn thấy cái chết của đồng đội giữa chiến trường hình thành nên sự hy sinh vô cùng trang trọng của người anh hùng đã hy sinh vì tổ quốc. Biện pháp nói giảm nói tránh: “anh về đất” làm vơi đi biết bao nhiêu sự bi thương khi nói tới cái chết của chiến sĩ Tây Tiến. Biện pháp nghệ thuật cường điệu: “Sông Mã gầm lên khúc độc hành” để nói lên một điều rằng thiên nhiên đã tấu lên một khúc nhạc hùng tráng như để đưa tiễn những người lính Tây Tiến. Người lính Tây Tiến đã ra đi trong chính khúc nhạc vĩnh hằng.

Bằng những câu thơ mang đậm âm hưởng bi tráng, đoạn thơ đã khắc họa được chân dung những người lính từ ngoại hình đến cả nội tâm, đặc biệt là tính cách vô cùng hào hoa lãng mạn bi nhưng không lụy. Những con người đó đã làm nên vẻ đẹp hào khí một thời. Họ mang những phẩm chất cần có của người lính cụ Hồ.

Bài thơ chính là khúc ca bi tráng cùng tinh thần lãng mạn về hình tượng của những người lính Tây Tiến trong những năm mở đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Tuy có gian khổ, thiếu thốn nhưng vẫn gợi lên được phẩm chất cao quý anh hùng hào hoa, lãng mạn.

Combo sổ tay các môn học hệ thống kiến thức theo sơ đồ tư duy dễ nhớ, dễ hiểu

3.2 Phân tích Tây Tiến khổ 3 hay nhất

Cả bài thơ thể hiện nỗi nhớ dạt dào về đoàn quân Tây Tiến, với những kỉ niệm khắc sâu mãi trong tâm trí về những khó khăn, vất vả trong cuộc sống và chiến đấu cũng như những giây phút thanh bình cạnh bên người dân Tây Bắc. Bài thơ còn miêu tả rất chân thực về hình ảnh của những người lính về cả tinh thần lẫn những phẩm chất tốt đẹp của họ.

Tây Tiến đoàn quân không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Một đoạn thơ khắc đã khắc họa rõ về những chiến sĩ Tây Tiến và hình ảnh tả thực ấy gợi lên trong lòng độc giả nhiều niềm thương cảm cùng với sự ngưỡng mộ. Đoạn mở đầu được miêu tả rất thẳng mà không chút tránh né sự thật nào.

Tây Tiến đoàn quân không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Cuộc sống nơi chốn rừng núi Tây Bắc còn thiếu thốn vô cùng. Quân chiến đấu không thể đủ ăn, mặc còn không đủ ấm. Để chiến đấu thì họ phải cạo trọc mái đầu tạo thành đoàn “vệ trọc” “vệ đỏ” để kẻ thù không thể tóm được họ. Những nguyên nhân khác cũng có thể là những cơn sốt rét rừng cực kỳ nguy hiểm đến tính mạng, cứ đe dọa, rình rập và sẵn sàng lấy đi tính mạng của họ bất cứ thời điểm nào.

Trong bài “Đồng chí” của tác giả Chính Hữu cũng đã có đề cập về những khó khăn và căn bệnh đó như thế này;

Áo anh rách vai, quần tôi có vài mảnh vá

Miệng cười buốt giá, chân không dày

….

Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi.

Căn bệnh này thì người lính nào cũng đã gặp phải nhưng đến với bài thơ Tây Tiến, những người chưa từng chứng kiến cũng có thể hiểu được hoàn cảnh khốn khổ một cách chân thực nhất. Đó là sự thật không hề nói quá hay là nói chỉ để tạo ấn tượng, thật thú vị bởi nhà thơ lấy chính cái hiện thực tàn khốc ấy để biến thành sự kiêu hãnh cho chính mình. Đó cũng là cái tên khác của đoàn quân Tây Tiến: “đoàn quân không mọc tóc.” Cũng như Phạm Tiến Duật đã từng gọi đoàn xe không kính của mình. Đó là một cách gọi dí dỏm thể hiện được tinh thần lạc quan và chất lính. Câu tiếp theo được chia thành hai vế quân xanh màu lá/ dữ oai hùm. Màu xanh chính là màu xanh của lá ngụy trang hay cũng chính là màu xanh của da thịt của người lính do cuộc sống quá vất vả và phải chịu căn bệnh làm da nhợt nhạt đi, không có sức sống.

Như Tố Hữu đã từng nói:

Khuôn mặt đã lên màu bệnh tật

Đâu còn tươi nữa những ngày qua.

Cả đoàn quân tuy yếu ớt về thể chất nhưng bên cạnh đó là cả một tinh thần, khí thế vô cùng oai phong. Cái bi được đặt bên cái tráng làm nổi bật lên sự oai phong của đoàn quân. Ba tiếng “dữ oai hùm” tạo thành âm hưởng vô cùng mạnh mẽ hùng tráng cho cả câu thơ. Người đọc có thể cảm nhận được khí thế của đoàn quân khi ra trận, dù yếu nhưng vẫn đánh cho quân Pháp phải khiếp sợ. Dù cho cuộc sống có bao nhiêu khó khăn nhưng những người lính Tây Tiến vẫn mang trong mình vô vàn mộng mơ và khát khao hoài bão.

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

Hai câu chứa hai chữ “mộng” và “mơ” thể hiện rõ mơ ước đánh thắng giặc để trở về nhà. Từ “trừng” được sử dụng rất đặc sắc, nó cho thấy biết bao nhiêu tâm nguyện, khát vọng và hoài bão tự đáy lòng đều gửi gắm cả vào ánh mắt. “Mắt trừng” không phải là hành động mạnh nhìn trừng trừng hay nhìn dữ dằn, dọa nạt mà là cái nhìn khôn nguôi thể hiện lên những mong ước rằng một ngày có thể chiến thắng được kẻ thù. Chữ “mộng” khiến câu thơ tự nhiên chùng xuống ẩn chứa niềm cảm xúc bâng khuâng. Câu thơ của tác giả Quang Dũng khiến cho ta nhớ đến một câu thơ của nhà thơ Nguyễn Đình Thi:

Những đêm dài hành quân nung nấu

Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu.

Nhớ về “người yêu” hay nhớ cái “dáng kiều thơm” làm cho hình ảnh của người lính trở nên gần gũi hơn. Vì nỗi nhớ ấy rất đỗi bình thường với những chàng thanh niên, nhưng trong lúc khó khăn thì lại thật sự cao quý. Nỗi nhớ cùng những mộng mơ giúp tiếp sức và làm tăng nghị lực để vượt qua những thiếu thốn về vật chất, những con đau dằn xé về thể chất để không gục ngã trước kẻ thù bởi hoàn cảnh. Quang Dũng đã viết nên bốn câu thơ đầu bằng cái nhìn đa chiều và phong phú. Để ta thấy được đằng sau phong thái anh dũng ấy cũng là những tâm hồn trẻ trung và tài hoa.

Đọc thêm:  Phân tích Bình Ngô Đại Cáo đoạn 3 của Nguyễn Trãi – Văn mẫu chi tiết

Hai câu thơ tiếp theo chính là sự tiếp nối của sự chiến đấu giành lại độc lập tự do. Đó cũng là sự hy sinh cao cả:

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh.

Nếu chỉ đọc câu thơ đầu thì không thể không xúc động trước hiện thực quá đỗi tàn khốc, bi thương. Cả một đoàn quân đang đi trên một con đường dài thì thỉnh thoảng sẽ có người phải ở lại sau lưng. Bên đường lại tự nhiên mọc lên một nấm mồ. Giữa rừng núi, không có một nén hương, không có giọt nước mắt người thân. Những cái chết thực sự cô độc giữa núi rừng lạnh lẽo, bi thảm. Những câu thơ phía sau như một lực kéo vô hình giúp nâng câu đầu lên để chuyển sự bi thảm thành sự bi tráng. Câu thơ thứ hai chính là câu hát thách thức ngạo nghễ của những người lính trẻ. Biết khi đi là sẽ hy sinh đó nhưng một khi đã ra đi thì không thể nào quay đầu trở lại. Dù có phải hy sinh cũng là sự hy sinh vô cùng xứng đáng. Nói không tiếc thì cũng không phải vì họ là những thanh niên còn biết bao điều chưa làm được, nhưng đây là sự hiến dâng phần đời còn lại cho tổ quốc nên không có gì phải tiếc cả.

Như anh lính trong dáng đứng Việt Nam

Và anh chết trong khi đang đứng bắn

Máu anh phun theo lửa đạn cầu vồng.

Những sự hy sinh thực sự cao cả, vĩ đại dù không thể biết những ai đã hy sinh nhưng Nguyễn Khoa Điềm cũng từng khẳng định rằng “không ai nhớ mặt đặt tên. Nhưng họ đã làm nên đất nước.” Một khi xác định được lý tưởng thì những người lính có thể xem cái chết mình chỉ nhẹ tựa lông hồng.

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

Cuộc sống thiếu thốn đến nỗi không có một mảnh chiếu nào để che thân nhưng với tác giả Quang Dũng mảnh áo đó chính là “áo bào” như những chiến tướng thời xưa. Một cái chết vừa hào hùng, vừa sang trọng vì là chết cho tổ quốc. Đất đã sinh ra các anh và lại một lần nữa đón nhận anh trở về khi đã hoàn thành nghĩa vụ thiêng liêng của mình. Anh ra đi không mang theo được tiếng khóc của đồng đội nhưng chính tiếng gầm của dòng sông Mã đã tiễn anh ra đi. Cả quê hương đất nước như đang tiếc thương cho anh và đưa anh về đất. Vẫn là cái chết nhưng lại đậm khí chất hào hùng, không bi lụy mà là bi tráng. Đây là điểm nhấn xuyên suốt toàn bài thơ, là nét đặc sắc trong thơ của Quang Dũng. Tuy nhiên, lúc bài thơ ra đời thì nhiều người vẫn chưa thể hiểu được. Họ coi việc nói về cái chết là sự kể lể, yếu mềm theo phong cách tiểu tư sản, nhưng họ chẳng hiểu được sâu hơn là phía sau cái chết chính là sự hào hùng. Cái chết chỉ như cái nền cho sự vinh quang. Ở đây dòng sông Mã một lần nữa được nhắc đến khi nói về Tây Tiến. Điều đó càng khẳng định thêm sự hy sinh và ra đi cao cả của các anh đã đi vào vĩnh cửu khi thân xác được hòa vào cỏ cây và hòa vào đất mẹ thiêng liêng.

Đoạn thơ đã tạo được khí thế cho toàn đoàn quân. Những người lính với ý chí hết sức kiên cường, nghị lực cùng với bao nhiêu ước mơ. Họ đã ra đi, chiến đấu hết mình và hy sinh cao cả. Họ đã bảo vệ được tổ quốc mà không tiếc đến đời mình. Quang Dũng đã thể hiện được điều đó thông qua bút pháp tả thực và cả lãng mạn. Nhà thơ đã bộc lộ được tinh thần của người chiến sĩ Cụ Hồ thời kỳ chống giặc Pháp.

“Đoàn vệ quốc quân một lòng ra đi

Nào có xá chi đâu ngày trở về.”

Học chắc kiến thức cùng các thầy cô trong khóa học PAS THPT đầu tiên và duy nhất của vuihoc

3.3 Phân tích khổ 3 Tây Tiến cho học sinh giỏi

Tây Tiến là một trong những bài thơ tiêu biểu của tác giả Quang Dũng. Ban đầu thì tác phẩm có nhan đề là Nhớ Tây Tiến, về sau tác giả mới đổi lại thành Tây Tiến. Hiện nay, tác phẩm Tây Tiến được đưa vào và giảng dạy ở trong chương trình Ngữ văn cấp THPT. Thông qua khổ thơ thứ 3 bài thơ Tây Tiến, nhà thơ Quang Dũng đã cho độc giả cảm nhận một khúc tráng ca đầy hào hùng về hình ảnh của những người lính Tây Tiến hào hoa đã in đậm vào lịch sử văn chương.

Sau một khoảng thời gian xa đơn vị và đồng đội của mình, ông đã sáng tác bài thơ “Tây Tiến” này vào năm 1948, tại Phù Lưu Chanh là một địa danh bên cạnh bờ sông Đáy hiền hòa. Cảm xúc chủ đạo bao phủ toàn bài thơ là nỗi nhớ, niềm tự hào với đoàn quân Tây Tiến, đối với dòng sông Mã và núi rừng miền Tây xa xôi. Đó cũng chính là nỗi nhớ “chơi vơi” gọi lên bao kỉ niệm đẹp và cảm động của một thời chiến tranh đầy gian khổ, hy sinh. Là khổ thơ thứ 3 nằm trong bài “Tây Tiến” đã khắc họa được khí phách anh hùng cùng với tâm hồn lãng mạn của những người chiến sĩ trong khói lửa:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

(…)

Sông Mã gầm lên khúc độc hành”.

Trên từng nẻo đường hành quân chiến đấu, vượt qua vô vàn núi cao dốc thẳm “Heo hút cồn mây súng ngửi trời”, đoàn binh Tây Tiến xuất hiện giữa màu xanh của thiên nhiên núi rừng hào hùng, vừa kiêu hãnh lại vừa cảm động. Người chiến binh năm ấy với quân trang là màu xanh của lá rừng, với nước da cũng xanh xao phong sương vì bị sốt rét trong rừng, thiếu đủ thứ thuốc men và lương thực nên mới “không mọc tóc”. Câu thơ mô tả trần trụi hiện thực chiến tranh vào những năm đầu tiên kháng chiến. “Không mọc tóc” là một hình ảnh phản ánh sự nghiệt ngã của chiến trường:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc,

Quân xanh màu lá dữ oai hùm”.

Cái hình dáng không có gì đẹp như “quân xanh màu lá”, “không mọc tóc” tương phản với dáng vẻ “dữ oai hùm” là một nét chạm khắc tài tình nhấn mạnh được chí khí hiên ngang, tinh thần dũng cảm dám xung trận của những chiến binh Tây Tiến từng làm cho quân địch phải khiếp sợ. “Dữ oai hùm” là một hình ảnh ẩn dụ thể hiện chí khí của những người lính mang tính kế thừa sáng tạo của tác giả Quang Dũng. Những chiến binh “Sát Thát” đời nhà Trần: “Tam quân tỳ hổ khí thôn Ngưu” (Phạm Ngũ Lão) hay “Tỳ hổ ba quân, giáo gươm chói sáng” (Trương Hán Siêu). Nghĩa quân Lam Sơn cũng xung trận với một khí thế “bình Ngô”: “Sĩ tốt kén tay tì hổ – Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh” (Bình Ngô đại cáo) – Một dân tộc anh hùng trên công cuộc đánh giặc, thời đại nào thì cũng có những người chiến sĩ “tì hổ” và “dữ oai hùm” như vậy! Với niềm tự hào trào dâng, Quang Dũng đã viết nên một câu thơ rất hay: “Quân xanh màu lá dữ oai hùm”, lấy cái thô sơ, mộc mạc để điểm tô nên cái đẹp, cái dũng khí ẩn sâu bên trong tâm hồn của những người chiến sĩ. Dù có đói khổ, thiếu thốn và chịu đựng bệnh tật hay trải qua muôn vàn khó khăn, thử thách nhưng trong họ vẫn có giấc “mơ”, giấc “mộng” vô cùng đẹp:

“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới,

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”.

Mộng mơ được gửi về hai phía là biên giới và Hà Nội, nơi còn đầy rẫy những bóng giặc thù. “Mắt trừng” – hình ảnh gợi tả sự dữ dội, oai phong lẫm liệt cùng tinh thần cảnh giác, tỉnh táo của những người chiến sĩ trong khói lửa ác liệt. “Mộng qua biên giới” – mộng sẽ tiêu diệt được hết quân địch, bảo vệ được biên cương, lập nên biết bao chiến công và nêu cao truyền thống anh dũng của đoàn quân Tây Tiến. Những người chiến sĩ Tây Tiến ấy vốn là những học sinh, sinh viên và những chàng trai trẻ từ Hà thành “xếp bút nghiên theo việc đao, cung” và tràn đầy tinh thần yêu nước và phong độ hào hoa: “Từ thuở mang gươm đi giữ nước Nghìn năm thương nhớ đất ở Thăng Long” (Huỳnh Văn Nghệ). Sống giữa thiên nhiên núi rừng miền Tây đầy gian khổ, ác liệt, cái chết luôn rình rập, bủa vây và lửa đạn mịt mù mà các anh vẫn luôn mơ về Hà Nội lãng mạn. Quên sao được những hàng me, hàng sấu, những con phố cổ, trường xưa, “Những phố dài xao xác hơi may”?.. Quên sao được tà áo dài trắng, những thiếu nữ thân yêu, những “dáng kiều thơm” các anh từng hò hẹn. Hình ảnh “Dáng kiều thơm” trong câu thơ của nhà thơ Quang Dũng đem đến cho người đọc rất nhiều điều thú vị: ngôn từ vốn có xuất hiện trong bài đầy chất thơ lãng mạn thời “tiền chiến” nhưng dưới ngòi bút của tác giả là chiến sĩ thì nó trở nên có hồn, miêu tả rõ được chất lính hào hoa, lãng mạn và trẻ trung của những người lính trẻ thuộc đoàn binh Tây Tiến trong trận mạc.

Đọc thêm:  Top 10 Bài văn phân tích bài thơ "Từ ấy" của Tố Hữu hay nhất

Nếu những người nông dân mặc áo lính xuất hiện trong thơ của Chính Hữu mang đến nỗi nhớ “giếng nước gốc đa”, nhớ về mái nhà, nhớ ruộng nương…; trong các câu thơ của Hồng Nguyên thể hiện nỗi nhớ “người vợ trẻ – Mòn chân bên cối gạo canh khuya”,… thì hình ảnh người lính trong thơ Quang Dũng bộc lộ nỗi nhớ gắn liền với hai chữ “mộng” và “mơ”. Mộng về một ngày lập được chiến công, mơ về “dáng kiều thơm”. Hữu Loan trong bài thơ “Màu tím hoa sim” cũng đã viết rất hay về những nỗi nhớ của người lính trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp:

“Từ chiến khu xa

Nhớ về ái ngại

Lấy chồng thời chiến tranh

Mấy người đi trở lại

Lỡ khi mình không về

Thì thương người vợ bé bỏng chiều quê…”

Viết về “mộng”, “mơ” của những người chiến binh Tây Tiến, Quang Dũng đã ca ngợi tinh thần lạc quan yêu đời của toàn bộ đồng đội của mình. Đó là một nét khám phá độc đáo của nhà thơ khi vẽ lên chân dung “anh bộ đội Cụ Hồ” xuất thân từ tầng lớp tiểu tư sản trong những năm kháng chiến chống giặc Pháp.

Bốn câu thơ tiếp theo chính là những nét vẽ bổ sung, tô đậm lên chân dung của những người lính:

“Rải rác biên cương mồ viễn xứ,

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất,

Sông Mã gầm lên khúc độc hành”.

Trong gian khó của chiến trận, bao nhiêu đồng đội đã ngã xuống ở chính nơi chiến trường miền Tây. Họ đã nằm ở lại, ở nơi chân đèo góc núi lạnh lẽo, hoang vu. Nấm mồ của những người chiến sĩ được mô tả “rải rác biên cương”. Câu thơ đã để lại trong lòng chúng ta rất nhiều thương cảm xen lẫn tự hào: “Rải rác biên cương mồ viễn xứ”. Nếu tách câu thơ này ra khỏi đoạn thơ thì nó sẽ làm hiện lên bức tranh lạnh lẽo, ảm đạm, hiu hắt và đem đến vô vàn xót thương. Nhưng khi nằm trong hoàn cảnh, mạch thơ và câu thơ tiếp theo là: “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”, đã nâng cao được chí khí và tầm vóc của người lính. Các anh sẵn sàng ra trận vì một lý tưởng rất đẹp. “Đời xanh” là nhắc đến đời trai trẻ, tuổi thanh xuân của “Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng…”, những người mới chỉ là học sinh, sinh viên ở khắp nơi trong Hà Nội. Họ đã lên đường hành quân vì một nghĩa cử lớn lao của chí khí làm trai, họ “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Câu thơ “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” vang vọng như một tiếng nói thiêng liêng, cao cả. Các anh quyết tâm đem xương máu của mình để bảo vệ nền độc lập và tự do cho Tổ quốc. Anh bộ đội như nhân dân ta đã đứng lên trong kháng chiến, quyết tâm sắt đá: “Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định là không chịu làm nô lệ”. Quang Dũng đã ghi lại được cảnh tượng bi tráng giữa nơi chiến trường miền Tây khi đó:

“Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành”.

Những tráng sĩ năm xưa giữa chốn sa trường đã phải lấy da ngựa bọc thây chính là niềm kiêu hãnh. Những người lính Tây Tiến với chiếc chiếu đơn sơ cùng tấm “áo bào” bình dị ấy “anh về đất”. Một cái chết hết sức nhẹ nhàng thanh thản mà lại oanh liệt. Anh ra trận giết địch để bảo vệ hạnh phúc cho quê hương. Anh đã ngã xuống là “về đất”, là nằm trong lòng của Đất mẹ Tổ quốc thân yêu. Nhà thơ không sử dụng từ “chết” hay từ “hi sinh” mà dùng cụm từ “về đất” để ca ngợi lên sự hy sinh cao cả bình lặng mà thanh thản, coi cái chết chỉ nhẹ tựa lông hồng. Người chiến binh Tây Tiến đã sống và chiến đấu hết mình cho quê hương và đã chết vì tình yêu đất nước quê hương. “Anh về đất” bằng toàn bộ tấm lòng chung thủy của người chiến sĩ. Tiếng thác bên dòng sông Mã “gầm lên” giữa thiên nhiên rừng núi miền Tây được coi như tiếng kèn trong bài “Chiêu hồn liệt sĩ” tiễn linh hồn của những liệt sĩ về an giấc ngàn thu. Câu “Sông mã gầm lên khúc độc hành” là một câu thơ rất hay gợi tả được một không khí thiêng liêng, đồng thời cũng tạo nên những âm điệu trầm hùng, thương tiếc. Phong cách ngôn ngữ của Quang Dũng vô cùng đặc sắc, bên cạnh từ ngữ bình dị đời thường như: gục, không mọc tóc, dữu, trừng, chiếu, về đất, gầm lên… lại có một vài những từ Hán Việt như: mộng, mơ, biên giới, viễn xứ, dáng kiều, áo bào và khúc độc hành nhờ đó mà những điều bình dị làm nổi bật lên cái cao cả thiêng liêng, cái bình thường lại tô đậm được chí khí anh hùng, vĩ đại. Chất bi tráng mang màu sắc lãng mạn từ vần thơ lan tỏa trong không gian và chiều dài của lịch sử.

Khổ thơ thứ ba đã thể hiện rõ chân dung người lính trong bài thơ “Tây Tiến” là khổ thơ có thể nói là độc đáo nhất. Khuynh hướng sử thi cùng cảm hứng lãng mạn được nhà thơ kết hợp vận dụng hết sức sáng tạo nhằm miêu tả bộc lộ cảm xúc, tạo nên những vần thơ “có hồn”. Người lính đã sống thật sự anh dũng và chết một cách oanh liệt. Hình tượng của người chiến sĩ Tây Tiến sẽ mãi mãi là tượng đài nghệ thuật bi tráng hằn sâu vào tâm hồn của các thế hệ dân tộc.

“Anh Vệ quốc quân ơi

Sao mà yêu anh thế!”

(Cá nước năm 1947, Tố Hữu).

Giải pháp ôn thi tốt nghiệp THPT luyện đủ dạng bài các môn cùng thầy cô của vuihoc

Nếu khổ 1 và 2 chú trọng vào thiên nhiên, kỷ niệm nơi núi rừng hoang vu thì khổ 3 lại miêu tả rất chi tiết về hình ảnh của những người lính Tây Tiến. Để tìm hiểu thêm về nghệ thuật và nội dung, VUIHOC đã làm mẫu phân tích khổ 3 Tây Tiến để giúp các em có nguồn tham khảo và áp dụng được vào bài văn của mình. Ngoài ra, để học thêm những kiến thức hay về ngữ văn cũng như các môn học khác, các em hãy nhanh tay truy cập website vuihoc.vn hoặc đăng ký các khoá học với thầy cô VUIHOC ngay nhé!

>> Mời các bạn xem thêm:

  • Phân tích khổ 1 Tây Tiến
  • Phân tích khổ 2 Tây Tiến
  • Phân tích Tây Tiến

Related Articles

Back to top button