Văn mẫu

Bài văn phân tích khổ 3 Tây Tiến hay nhất

Phân tích khổ 3 Tây Tiến là một trong những dạng đề thi rất thường gặp trong chương trình Ngữ Văn THPT. Ta có thể thấy đoạn 3 Tây Tiến là đoạn khắc họa rõ nét nhất về hình tượng người lính Tây Tiến vừa hào hoa vừa bi tráng. Mời các bạn hãy cùng Hoatieu tham khảo một số bài mẫu phân tích khổ 3 Tây Tiến để cảm nhận rõ nét hơn vẻ đẹp của người lính Tây Tiến.

Tác phẩm Tây Tiến là một bài thơ tiêu biểu của nhà thơ Quang Dũng. Ban đầu bài thơ được đặt tên là Nhớ Tây Tiến sau đó đã được tác giả đổi thành Tây Tiến và được đưa vào giảng dạy trong chương trình Ngữ văn lớp 12. Với đoạn 3 bài thơ Tây Tiến của tác giả Quang Dũng đã cho người đọc thấy những hình ảnh và cảm nhận chân thực nhất về hình tượng những người lính Tây Tiến từ ngoại hình đến nội tâm. Ta có thể nói Tây Tiến là một khúc tráng ca về những người lính đã đi vào lịch sử thơ ca của dân tộc. Sau đây là tổng hợp các bài văn mẫu phân tích khổ 3 của bài thơ Tây Tiến hay và chi tiết, mời các bạn cùng tham khảo.

Tham khảo thêm:

  • Phân tích đoạn 2 Tây Tiến
  • Phân tích Khổ 4 Tây Tiến
  • Dàn ý Tây Tiến phân tích toàn bài
  • Soạn văn 12 Tây Tiến

1. Phân tích đề bài

– Yêu cầu đề: phân tích nội dung của 4 câu thơ ở khổ 3 bài Tây Tiến.

– Kiểu bài: dạng bài nghị luận văn học (phân tích đoạn trích của tác phẩm).

– Vấn đề nghị luận: khổ 3 trong bài thơ Tây Tiến của tác giả Quang Dũng

– Phạm vi dẫn chứng, tư liệu: các căn cứ, hình ảnh, câu nói, chi tiết… thuộc phạm vi của thơ khổ 3 của bài Tây Tiến.

2. Sơ đồ tư duy phân tích khổ 3 Tây Tiến

Sơ đồ tư duy phân tích 4 câu trong khổ thơ 3 bài Tây Tiến

Sơ đồ tư duy phân tích khổ 3 Tây Tiến
Sơ đồ tư duy phân tích khổ 3 Tây Tiến

3. Chi tiết dàn ý phân tích khổ 3 Tây Tiến

a) Dàn ý Mở bài phân tích khổ 3 Tây Tiến:

– Giới thiệu về Quang Dũng và tác phẩm Tây Tiến.

– Dẫn dắt vào những vấn đề cần phân tích và trích dẫn đoạn thơ trên.

b) Dàn ý Thân bài Phân tích khổ 3 Tây Tiến

* Khái quát chung:

– Hoàn cảnh ra đời sau khi tác giả rời xa đơn vị cũ. Cuối năm 1948, ở Phù Lưu Chanh, Quang Dũng đã nhớ lại những kỉ niệm về đoàn quân Tây Tiến và viết nên bài thơ Tây Tiến.

– Nội dung của bài thơ: Là nỗi nhớ về chiến trường, con người, về thiên nhiên Tây Bắc bằng cả tấm chân tình của chính tác giả.

Vị trí đoạn trích: Đoạn thơ thứ ba trong mạch cảm xúc của toàn bài thơ.

Nội dung đoạn trích: Chân dung người lính Tây Tiến với sự hi sinh quả cảm của họ.

* Những nội dung cần phân tích

– Chân dung: Những chi tiết được tả thực đã khắc họa diện mạo rất độc đáo, đồng thời phản ánh hiện thực gian khổ, thiếu thốn và bệnh tật nơi chiến trường. Tác giả không hề né tránh hiện thực, và tất cả điều đó thể hiện tấm lòng yêu nước, căm thù giặc mãnh liệt của người lính Tây Tiến

– Với tâm hồn hào hoa, lãng mạn và kiêu hùng: Qua các ngôn từ thơ “dữ oai hùm”, “mắt trừng gửi mộng đến biên giới” ta thấy được khí thế, quyết tâm của người lính Tây Tiến.

Lí tưởng cao đẹp: Không trốn tránh thực tại “Áo bào thay chiếu anh về đất”, tác giả khắc họa sự hi sinh của người lính một cách thanh thản, thầm lặng và cao cả, xúc động lòng người, lay động thiên nhiên.

* Nghệ thuật

– Bút pháp tả thực khắc họa chân dung những người lính với hiện thực gian khổ ở nơi chiến trường; dùng từ Hán – Việt cổ kính để tăng thêm sự thành kính, trân trọng đối với người đã khuất nói giảm thể hiện lí tưởng cao đẹp của người chiến sĩ trong chiến đấu, khắc họa sự hi sinh, nhấn mạnh sự mất mát nơi chiến trường khắc nghiệt.

– Nhận xét: Với giọng thơ trang trọng, có đôi lúc lắng xuống, cảm xúc dạt dào, hình ảnh người lính Tây Tiến hiện lên vẻ đẹp bi tráng, tạc vào lòng người như bức tượng đài bất tử về người lính không thể quên.

c) Dàn ý Kết bài phân tích khổ 3 Tây Tiến:

Khẳng định và đánh giá về những câu thơ trên.

Mở rộng ra vấn đề: Nêu suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về hình ảnh những người lính Tây Tiến được thể hiện qua đoạn thơ trên.

3. Phân tích khổ 3 Tây Tiến (mẫu 1)

Tác phẩm Tây Tiến là bài thơ hay nhất của Quang Dũng cũng là một trong những bài thơ tuyệt bút về anh bộ đội Cụ Hồ trong kháng chiến chống Pháp cứu nước. Quang Dũng là nhà thơ, là chiến sĩ, vừa cầm súng đánh giặc, vừa làm thơ. Ông viết về những người đồng đội, về binh đoàn Tây Tiến thân yêu của mình. Thơ của Quang Dũng luôn nóng bỏng hào khí chiến trường.

Sau thời gian xa đơn vị và đồng đội, ông viết bài thơ “Tây Tiến” này vào năm 1948, tại Phù Lưu Chanh là một địa điểm bên bờ sông Đáy hiền hòa. Cảm xúc chủ đạo của bài thơ là nỗi nhớ, niềm tự hào đối với đoàn binh Tây Tiến, đối với con sông Mã, núi rừng miền Tây xa xôi. Đó là nỗi nhớ “chơi vơi” bao kỉ niệm đẹp và cảm động của một thời trận mạc đầy gian khổ, hi sinh. Là đoạn thơ thứ 3 trong bài “Tây Tiến” đã khắc họa khí phách anh hùng với tâm hồn lãng mạn của người chiến sĩ trong máu lửa:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

(…)

Sông Mã gầm lên khúc độc hành”.

Trên nẻo đường hành quân chiến đấu, vượt qua biết bao núi cao dốc thẳm “Heo hút cồn mây súng ngửi trời”, đoàn binh Tây Tiến hiện ra giữa màu xanh của núi rừng hào hùng, vừa kiêu hãnh vừa cảm động. Người chiến binh ấy với quân trang màu xanh của lá rừng, với nước da xanh phong sương vì sốt rét rừng, thiếu thuốc men, thiếu lương thực: “không mọc tóc”. Câu thơ trần trụi hiện thực chiến tranh những năm đầu kháng chiến vốn thế. “Không mọc tóc” là hình ảnh phản ánh sự khắc nghiệt của chiến trường:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc,

Quân xanh màu lá dữ oai hùm”.

Cái hình hài không lấy gì là đẹp: “quân xanh màu lá”, “không mọc tóc” tương phản với “dữ oai hùm” một nét chạm khắc tài tình làm nổi bật chí khí hiên ngang, tinh thần quả cảm xung trận của chiến binh Tây Tiến từng làm cho quân giặc phải khiếp sợ. “Dữ oai hùm” là một hình ảnh ẩn dụ nói lên chí khí của người lính mang tính kế thừa sáng tạo của Quang Dũng. Những chiến binh “Sát Thát” đời Trần: “Tam quân tỳ hổ khí thôn Ngưu” (Phạm Ngũ Lão); “Tỳ hổ ba quân, giáo gươm chói sáng” (Trương Hán Siêu). Nghĩa quân Lam Sơn xung trận với khí thế “bình Ngô”: “Sĩ tốt kén tay tì hổ – Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh” (Bình Ngô đại cáo) – Một dân tộc anh hùng trên trận tuyến đánh giặc, thời đại nào cũng có những chiến sĩ “tì hổ” và “dữ oai hùm” thế đó! Với niềm tự hào, Quang Dũng viết nên một câu thơ rất hay: “Quân xanh màu lá dữ oai hùm”, lấy cái “thô”, cái “mộc” để tô đậm nên cái đẹp, cái dũng khí ẩn chứa trong tâm hồn của người chiến sĩ.

Gian khổ, ác liệt, thiếu thốn và bệnh tật… muôn lần khó khăn, thử thách nhưng học vẫn có giấc “mơ”, giấc “mộng” rất đẹp:

“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới,

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”.

Mộng mơ gửi về hai phía chân trời: biên giới và Hà Nội, nơi còn đầy những bóng giặc. “Mắt trừng” – hình ảnh gợi tả nét dữ dội, oai phong lẫm liệt, tinh thần cảnh giác, tỉnh táo của con người lính trong khói lửa ác liệt. “Mộng qua biên giới” – mộng tiêu diệt quân địch, bảo vệ biên cương, lập nên bao chiến công nêu cao truyền thống anh hùng đoàn binh Tây Tiến. Lại có giấc mơ đẹp. Chiến sĩ Tây Tiến vốn là những học sinh, sinh viên và những chàng trai Hà thành “xếp bút nghiên theo việc đao, cung” và giàu lòng yêu nước và phong độ hào hoa: “Từ thuở mang gươm đi giữ nước Nghìn năm thương nhớ đất ở Thăng Long” (Huỳnh Văn Nghệ). Sống giữa cái núi rừng miền Tây, gian khổ, ác liệt, cái chết bủa vây và lửa đạn mịt mù. Nhưng các anh vẫn mơ về Hà Nội lãng mạn. Quên sao được hàng me, hàng sấu, những phố cũ, trường xưa, “Những phố dài xao xác hơi may”?.. Quên sao được tà áo trắng, những thiếu nữ thương yêu, những “dáng kiều thơm” từng hò hẹn. Hình ảnh “Dáng kiều thơm” trong câu thơ của tác giả Quang Dũng đem đến cho người đọc rất nhiều thú vị: ngôn từ vốn có trong bài đầy thơ lãng mạn thời “tiền chiến” nhưng dưới ngòi bút của nhà thơ chiến sĩ nó trở nên có hồn, đặc tả chất lính hào hoa, trẻ trung và lãng mạn của người lính trẻ đoàn binh Tây Tiến trong trận mạc.

Nếu người nông dân mặc áo lính trong thơ của Chính Hữu mang theo nỗi nhớ “giếng nước gốc đa”, nhớ mái nhà gianh, nhớ ruộng nương…; trong thơ của Hồng Nguyên nỗi nhớ “người vợ trẻ – Mòn chân bên cối gạo canh khuya”,… thì người lính trong thơ Quang Dũng, nỗi nhớ gắn liền với “mộng” và “mơ”. Mộng lập những chiến công, mơ “dáng kiều thơm”. Hữu Loan trong bài thơ “Màu tím hoa sim” cũng viết rất hay về những nỗi nhớ của người lính chống Pháp:

Đọc thêm:  Văn mẫu lớp 12: Dàn ý phân tích tác phẩm Người lái đò sông Đà (10 mẫu) Dàn ý Người lái đò sông Đà (Sơ đồ tư duy)

“Từ chiến khu xa

Nhớ về ái ngại

Lấy chồng thời chiến tranh

Mấy người đi trở lại

Lỡ khi mình không về

Thì thương người vợ bé bỏng chiều quê…”

Viết về “mộng”, “mơ” của người chiến binh Tây Tiến, Quang Dũng ca ngợi tinh thần lạc quan yêu đời của đồng đội. Đó là một nét khám phá bất tận của nhà thơ khi vẽ chân dung “anh bộ đội Cụ Hồ” xuất thân từ một tầng lớp tiểu tư sản trong chín năm kháng chiến chống Pháp.

Bốn câu thơ tiếp theo là những nét vẽ bổ trợ, tô đậm chân dung người lính:

“Rải rác biên cương mồ viễn xứ,

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất,

Sông Mã gầm lên khúc độc hành”.

Trong gian khổ chiến trận, bao đồng đội đã ngã xuống trên nơi chiến trường miền Tây. Họ nằm ở lại nơi chân đèo góc núi. Nấm mồ của người chiến sĩ “rải rác biên cương”. Câu thơ để lại trong lòng ta nhiều thương cảm, tự hào: “Rải rác biên cương mồ viễn xứ”. Nếu tách câu thơ trên ra khỏi đoạn thơ thì nó sẽ tựa như bức tranh xám lạnh, ảm đạm và hiu hắt và đem đến nhiều xót thương. Nhưng nằm trong hoàn cảnh, đoạn mạch và câu thơ tiếp theo: “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”, đã nâng cao chí khí tầm vóc người lính. Các anh đã ra trận vì lý tưởng rất đẹp. “Đời xanh” là đời trai trẻ, tuổi thanh xuân của “Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng…”, những học sinh, sinh viên ở Hà Nội. Họ lên đường hành quân vì nghĩa lớn của chí khí làm trai. Họ “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” câu thơ “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” vang lên như một lời nói thiêng liêng, cao cả. Các anh quyết đem xương máu để bảo vệ độc lập và tự do cho Tổ quốc. Anh bộ đội như nhân dân ta đã đứng lên kháng chiến, quyết tâm sắt đá: “Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định là không chịu làm nô lệ”. Quang Dũng đã ghi lại cảnh tượng bi tráng giữa chiến trường miền Tây khi ấy:

“Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành”.

Những tráng sĩ ngày xưa giữa chốn sa trường lấy da ngựa bọc thây là niềm kiêu hãnh. Các người lính Tây Tiến với chiếc chiếu đơn sơ với tấm “áo bào” bình dị ấy “anh về đất”. Một cái chết nhẹ nhàng thanh thản và oanh liệt. Anh ra trận giết địch vì quê hương. Anh ngã xuống là: “về đất”, là nằm trong lòng Mẹ Tổ quốc thân yêu. Nhà thơ không dùng từ “chết” hay từ “hi sinh” mà lấy cụm từ “về đất” để ca ngợi sự hi sinh cao cả bình dị, thầm lặng mà thanh thản, nhẹ nhàng và coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Người chiến binh Tây Tiến sống và chiến đấu cho quê hương, đã chết vì đất nước quê hương. “Anh về đất” bằng tất cả tấm lòng chung thủy người chiến sĩ. Tiếng thác sông Mã “gầm lên” giữa rừng núi miền Tây như tiếng kèn trong bài “Chiêu hồn liệt sĩ” tống tiễn linh hồn liệt sĩ về an giấc ngàn thu. Câu “Sông mã gầm lên khúc độc hành” là một câu thơ hay gợi tả được không khí thiêng liêng, đồng thời tạo nên âm điệu trầm hùng, thương tiếc. Phong cách ngôn ngữ của Quang Dũng rất đặc sắc, bên cạnh từ ngữ bình dị đời lính như: gục, không mọc tóc, dữu, trừng, về đất, chiếu, gầm lên… lại có một số từ Hán Việt như là: mộng, mơ, biên giới, dáng kiều, viễn xứ, áo bào và khúc độc hành nhờ đó mà cái bình dị làm nổi bật cái cao cả thiêng liêng, cái bình thường tô đậm anh hùng, vĩ đại. Chất bi tráng màu sắc lãng mạn từ vần thơ tỏa rộng trong không gian chiều dài lịch sử.

Đoạn thơ đã viết về chân dung người lính trong bài thơ “Tây Tiến” là đoạn thơ độc đáo nhất. Khuynh hướng sử thi cảm hứng lãng mạn được nhà thơ kết hợp vận dụng sáng tạo trong miêu tả biểu lộ cảm xúc, tạo nên những câu thơ “có hồn”. Người lính đã sống anh dũng và chết oanh liệt. Hình tượng người chiến sĩ Tây Tiến mãi mãi là tượng đài nghệ thuật bi tráng in sâu vào tâm hồn dân tộc.

“Anh Vệ quốc quân ơi

Sao mà yêu anh thế!”

(Cá nước năm 1947, Tố Hữu).

4. Phân tích ở khổ 3 Tây Tiến (mẫu 2)

Quang Dũng là một trong những người nghệ sĩ rất đa tài. Ông có thể vẽ tranh, làm thơ và ông còn biết sáng tác nhạc. Thơ ca của Quang Dũng nổi bật với một hồn thơ lãng mạn, hào hoa và thắm đượm nghĩa tình và tinh thần dân tộc. Bài thơ Tây Tiến là một trong những bài thơ thể hiện tình cảm đó của Quang Dũng

Ban đầu tác phẩm có tên “Nhớ Tây Tiến”. Sau bỏ “nhớ” và giữ lại “Tây Tiến” vì Quang Dũng đã cho rằng bài thơ vốn đã tràn đầy nỗi nhớ, người đọc sẽ cảm thấy. Bài thơ được nảy sinh trong năm tháng không thể nào quên, từ một môi trường sống và chiến đấu không thể quên của cuộc đời người lính

Bài thơ đã được viết vào năm 1948 ở Phù Lưu Chanh (Hà Tây), khi ông đã chuyển sang đơn vị khác và nhớ về đơn vị cũ mình là đoàn quân Tây Tiến. Bài thơ thể hiện nỗi nhớ khi của tác giả về kỉ niệm với thiên nhiên Tây Bắc và đơn vị cũ của mình. Trong tác phẩm đó hình tượng những người lính Tây Tiến được thể hiện rõ trong đoạn thơ thứ 3 của bài thơ:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

(…)

Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

Khi đoàn quân Tây Tiến nơi lưu giữ trong trái tim của tác giả Quang Dũng những tư tưởng tốt đẹp nhất của thời thanh xuân đơn vị được thành lập năm 1947, Quang Dũng là đại đội trưởng. Đoàn quân có một nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên giới Việt – Lào. Các chiến sĩ có trong đội quân chủ yếu là những học sinh, sinh viên, dân lao động thành thị thuộc mọi ngành nghề khác nhau hợp thành một đội quân đoàn kết. Cuộc sống nơi chiến địa gian khổ và hiếu thốn vô cùng nhưng trong họ vẫn luôn ngời sáng phẩm chất anh bộ đội cụ Hồ với tinh thần lạc quan và không sợ gian khổ. Hình tượng của người lính Tây Tiến xuất hiện với một vẻ đẹp rất đậm chất bi tráng:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Với hình ảnh “không mọc tóc” gợi ra sự thật nghiệt ngã của hoàn cảnh sống và chiến đấu hết mình của các chiến sĩ Tây Tiến nhưng mang đậm chất khí chất ngang tàng. Hình ảnh “Quân xanh màu lá” với nghệ thuật đối lập đó “Không mọc tóc”, “quân xanh” , “dữ oai hùm” gợi lên dáng vẻ xanh xao và tiều tụy vì căn bệnh sốt rét. Tuy nhiên, hơn hết từ trong sâu thẳm người họ vẫn toát lên dáng vẻ oai như những con hổ chốn rừng thiêng, làm nổi bật tính cách dũng cảm người lính.

Sự oai phong lẫm liệt được thể hiện qua ánh mắt. “Mắt trừng” chính là ánh mắt dữ dội, rực cháy căm hờn, mang mộng giết kẻ thù. Họ rất anh dũng, kiên cường và đứng trước mũi súng quân thù vẫn hiên ngang nhưng nét đẹp lãng mạn rất rõ nét, sâu sắc tâm tưởng họ: “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”, Quang Dũng đã không tiếc lời, ông đã dành từ ngữ vô cùng trang trọng khi nói đến vẻ đẹp các cô gái Hà Nội: bên trong cái dáng vẻ oai hùng, dữ dằn là trái tim, tâm hồn khao khát với cuộc đời:

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Câu thơ thể hiện sâu sắc vẻ đẹp về sự hi sinh của người lính Tây Tiến. Các từ Hán Việt xa xưa, trang trọng “biên cương, mồ viễn xứ” tạo không khí trang trọng, âm hưởng bi hùng làm giảm đi hình ảnh của những nấm mồ chiến sĩ nơi rừng hoang biên giới lạnh lẽo và hoang vu. Vẻ đẹp bi tráng còn thể hiện qua khí phách người lính, lí tưởng anh hùng lãng mạn, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, quyết tâm và hiến dâng sự sống cho đất nước:

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành

Từ ngữ ước lệ “áo bào” gợi lên vẻ đẹp huyền bí của sự hi sinh: nhìn cái chết của những đồng đội giữa chiến trường thành sự hy sinh trang trọng của người anh hùng chiến trận. Biện pháp nói giảm: “anh về đất” làm vơi đi sự bi thương khi nói cái chết của người lính Tây Tiến. Biện pháp cường điệu: “Sông Mã gầm lên khúc độc hành” để nói lên thiên nhiên đã tấu lên khúc nhạc hùng tráng đưa tiễn người lính Tây Tiến. Người lính Tây Tiến ra đi trong khúc nhạc vĩnh hằng cuối cùng.

Bằng câu thơ mang âm hưởng bi tráng, đoạn thơ khắc họa chân dung người lính từ ngoại hình nội tâm, đặc biệt là tính cách hào hoa lãng mạn bi không lụy. Những con người làm nên vẻ đẹp hào khí của một thời. Họ mang phẩm chất chung của người lính cụ Hồ dũng cảm.

Bài thơ là một khúc ca bi tráng và tinh thần lãng mạn về hình tượng người lính Tây Tiến trong những năm đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Tuy gian khổ, thiếu thốn mà vẫn gợi lên được phẩm chất anh hùng hào hoa, lãng mạn.

5. Phân tích khổ 3 Tây Tiến (mẫu 3)

Khi bài thơ hay thường tạo nên nhiều kiểu rung cảm thẩm mỹ nơi người đọc, thậm chí còn gây nhiều tranh luận xung quanh các câu chữ, hình ảnh và cảm xúc… Tây Tiến của tác giả Quang Dũng là một trong những bài thơ như thế. Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, Tây Tiến không chỉ đứng vững mà có sức sống kì diệu. Trong tâm hồn của người thi nhân, Tây Tiến là một thời để thương, để nhớ những kỉ niệm của người chiến binh trong những ngày tháng sống chiến đấu cùng binh đoàn, nhớ cảnh rừng núi Tây Bắc vừa hiểm trở lại vừa hùng vĩ vừa không kém phần thơ mộng, nhớ lại những tháng ngày hành quân gian khổ, nhớ những kỉ niệm đẹp đẽ và những thời khắc nghỉ lại bản làng đầm ấm và thắm thiết tình quân dân.

Đọc thêm:  Bài phân tích đoạn 2 Tây Tiến hay nhất

Như ở hai đoạn đầu của bài thơ, người đọc được tiếp cận hình ảnh người lính một cách gián tiếp thì ở đoạn thơ thứ ba trực tiếp khắc họa chân dung người lính Tây Tiến:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

……..

Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

Bấy giờ ngoài Quang Dũng còn có những gương mặt quen thuộc như là bác sĩ Phạm Ngọc Khuê, đại đội trưởng kiêm nhạc sĩ Như Trang, nhà thơ Trần Lê Văn. Họ là những chàng trai Hà Thành còn rất trẻ. Binh đoàn Tây Tiến phần đông là những thanh niên trí thức Hà Nội (các trường đại học: Sư phạm, Bưởi, Thăng Long, Văn Lang…). Họ bước vào chiến trường không chỉ tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” mà còn có cả những nét hào hoa, thanh lịch của người Tràng An. Cuộc sống chiến đấu gian khổ và thiếu thốn không ngăn được lính Tây Tiến vui vẻ, sôi nổi, yêu đời mộng mơ. Tố chất người Tràng An đã thấm tận máu, tận hồn, là những chàng trai đa tài (làm thơ, vẽ tranh, viết nhạc…), và đã từng là đại đội trưởng một đại đội thuộc binh đoàn Tây Tiến, Quang Dũng đã rất thành công khi khắc họa lên chân dung người lính Tây Tiến, đem đến người đọc những rung cảm thẩm mĩ về những chiến sĩ hào hùng rất đỗi hào hoa. Hình tượng người chiến sĩ trong thơ Quang Dũng thấp thoáng dáng dấp của những chinh phu trong văn học cổ, hay là người hùng nước Vệ dứt áo lên đường, không hẹn ngày trở lại..

Ở thời chống Pháp, thơ viết về anh bộ đội thường viết về những người nông dân mặc áo lính vẻ đẹp bình dị, mộc mạc.

Rồi “Đồng chí” của tác giả Chính Hữu, “Cá nước của Tố Hữu, đều miêu tả người lính “chân quê”:

Áo anh rách vai

Quần tôi có vài mảnh vá

Miệng cười buốt giá

Chân không giày.

Người lính trong tác phẩm Tây Tiến của Quang Dũng vừa có những đặc điểm riêng lại vừa được khắc họa theo một bút pháp riêng. Bằng những bút pháp lãng mạn và tinh thần bi tráng triển khai trên nền ký ức, Quang Dũng đã dựng lên tượng đài bằng thơ người lính Tây Tiến.

Đó là một bức chân dung lẫm liệt, oai hùng:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Một số ý kiến đây là hình ảnh tột đỉnh của sự độc đáo. Ngược lại, một số cho rằng hình ảnh “đoàn binh không tóc”, “dữ oai hùm” là không chân thực, thậm chí làm cho hình ảnh anh bộ đội chống Pháp trở nên “quái đản”. Cảm nhận thơ như vậy vừa chưa đúng với đặc trưng của bút pháp lãng mạn, vừa chưa thật hiểu đầy đủ thực tế cuộc kháng chiến. Thực tế kháng chiến chống Pháp không chỉ anh bộ đội “lá ngụy trang reo với gió đèo” mà còn cả những “anh vệ trọc” nổi tiếng một thời. Cho nền, hình ảnh “đoàn binh không mọc tóc”, “quân xanh màu lá”, “dữ oai hùm” vừa là thực tế, vừa là sản phẩm của cảm hứng bút pháp lãng mạn.

“Đoàn binh không mọc tóc” đó là hình ảnh đoàn quân bị rụng hết tóc, hậu quả của những cơn ốm sốt rét rừng hoặc phải sống miền “rừng thiêng nước độc”; “quân xanh màu lá” có nghĩa là đoàn quân có nước da xanh như tàu lá – đây cũng là hậu quả những cơn sốt rét rừng cả, do gian khổ và thiếu thốn thế nhưng đoàn binh toát lên vẻ “dữ oai hùm”, nghĩa là vẫn dữ tợn như loài hổ báo rừng xanh. Đây là cách ví người hùng theo chứ không phải “làm xấu đi hình ảnh anh bộ đội” như người đã nghĩ.

Âm hưởng của đoạn thơ hào hùng do nhấn mạnh tính chất oai phong của “đoàn binh”. Cách miêu tả chân dung người lính Tây Tiến khiến ta nhớ câu thơ của Phạm Ngũ Lão thời Trần cũng miêu tả người chiến sĩ với “hào khí Đông A”:

Hoành sóc giang sơn cáp kỷ thu

Tam quân tì hổ khí thôn ngưu

(Múa giáo non sông đã mấy thu

Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu).

Vẻ đẹp câu thơ chính là ở tinh thần bi tráng lẫm liệt của đoàn binh Tây Tiến một vẻ đẹp có sự cộng hưởng âm vang truyền thống và tinh thần thời đại, giữa những người chiến binh năm xưa những người lính cụ Hồ hôm nay.

Hai câu thơ tiếp theo khắc họa một cách sinh động đời sống tâm hồn của những chiến sĩ Tây Tiến:

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

“Hai câu thơ như nhốt cả một thế giới” (Vũ Quần Phương), “thấy nổi lên lời độc tấu của chàng trai Hà Nội” (Đặng Anh Đào) vừa rất hào hùng, rất hào hoa. Hình ảnh “mắt trừng” thể hiện ý chí quyết tâm của ngọn lửa chiến đấu bảo vệ biên cương. Hình ảnh ấy cũng biểu hiện hoài bão, khát vọng lập công cháy bỏng căm thù của người lính Tây Tiến. Và ngày trong cuộc sống chiến đấu gian khổ dữ dằn đó, những người lính vẫn để tâm hồn cho hình ảnh thật dịu hiền và thân thương: “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”.

Chiến tranh thật tàn khốc thật nhưng chiến tranh không thể cướp được chất hào hoa của chàng trai cô gái Hà thành. Không gì có thể ngăn được những phút giây mơ mộng tâm hồn người lính. Có một thời, người ta gán cho Tây Tiến những “mộng rớt“, “buồn rớt” chính là vì những câu thơ như thế. Thực ra câu thơ diễn tả vẻ đẹp tâm hồn của người lính Tây Tiến. Nguyễn Đình Thi cũng diễn đạt rất thành công vẻ đẹp này trong bài thơ Đất nước:

Những đêm dài hành quân nung nấu

Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu.

Khác với nỗi nhớ của người lính trong thơ của tác giả Nguyễn Đình Thi và các nhà thơ khác, Quang Dũng thể hiện tình cảm người lính qua giấc mơ, khiến cho nỗi nhớ cũng lãng mạn chính tâm hồn họ vậy. Giấc mơ đã nâng đỡ tâm hồn của con người. Thật sang trọng, hào hoa!

Nói đến chiến tranh là nói đến đời lính không thể không nói đến cái chết. Quang Dũng cũng không né tránh và nhà thơ cũng đã nói theo cách riêng của mình:

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

Chất “tráng sĩ ca” được bộc lộ như một cách hào hùng và cũng đầy bi tráng. Nhà thơ mượn một ý thơ cổ nhưng tình ý thì rất mới. Ba chữ “mồ viễn xứ” gợi cảm giác buồn thầm lặng với sự hy sinh thầm lặng của những chiến sĩ vô danh. Ý nghĩa câu thơ mở ra thật lớn: “rải rác” đây đó ở nơi “biên cương”, những nấm mồ “viễn xứ” không một vòng hoa, không một nén hương và thật lạnh lẽo, thê lương. Bức tranh chiến trận sẽ trở nên ảm đạm nếu nhìn bi quan như thế. Những hồn thơ Quang Dũng mỗi khi chạm vào cái bi thương được nâng đỡ bởi đôi cánh lí tưởng. Câu thơ sau như một lực nâng vô hình đưa câu thơ trước lên cao. “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”. Cái bi thảm bỗng lại trở nên bi tráng. Với tinh thần dấn thân, tự nguyện và quãng đời thanh xuân tươi đẹp nhất họ đã hiến dâng cho một lý tưởng cao đẹp nhất đời. Họ ngã xuống thanh thản không chút vướng bận, không mảy may hối tiếc và cái chết được xem “nhẹ tựa lông hồng”.

Viết về chiến tranh là nhiều nhà thơ đã né tránh cái chết. Còn Quang Dũng đã cảm nhận cái chết như là một hiện thực tất yếu của chiến tranh. Cái chết của người lính qua con mắt thơ Quang Dũng rất đỗi hùng tráng mà không hề có giả dối. Cái bi tráng của câu thơ khẳng định được phương châm sống của cả một thế hệ cha anh trong những năm tháng chống Pháp gian khổ cực: “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Có hiểu được ý chí sắt đá của một dân tộc mới thấy được cái hay trong câu thơ Quang Dũng.

Hai câu sau tiếp tục nói đến cái chết trong âm hưởng sử thi hào hùng ấy:

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

Nhà thơ đã nói một sự thật bi thảm là: Người lính hy sinh trên đường hành quân đến một manh trong chiếu liệm cũng thiếu. Con mắt thơ Quang Dũng đã bao bọc đồng đội của mình trong những tấm áo bào sang trọng. “Áo bào” là sự kết hợp của hai từ: “áo vải” và “chiến bào” khiến cho chiếc “áo bào” vừa bình dị vừa sang trọng. Đây là cách nói theo Quang Dũng là để “an ủi linh hồn những người lính”. Xuất phát điểm là tình yêu đồng đội. Chính tình yêu thương khiến hồn thơ hào hoa Quang Dũng tìm được hình ảnh đẹp để “sang trọng hóa” cái chết của người chiến sĩ. Người lính đã ngã xuống với chiến bào đỏ thắm trong vầng hào quang lồng lộng của các chiến binh xưa. “Áo bào thay chiếu anh về đất”. Câu thơ mang đã sức mạnh ngợi ca. Không tìm được từ nào hay hơn để thay thế cho từ “về đất” trong câu thơ này. “Về đất” không những diễn tả được sự hi sinh của người lính mà còn thể hiện được sự trân trọng, yêu thương của người đồng đội ở lại. “Về đất” cũng là hòa vào linh hồn đất nước để bất tử hồn thiêng sông núi và trường tồn cùng đất nước. Dòng sông Mã đã viết lên “khúc độc hành” dữ dội hùng tráng để tiễn đưa hương hồn chiến sĩ với bao tiếc thương, cảm phục. Những mất mát đau thương ấy như dồn nén, tích tụ trong tiếng gầm và vang rung chuyển cả núi rừng của dòng sông Mã. Các anh hi sinh cho mảnh đất nảy nở đầy thơ, đầy nhạc và cùng đó với thiên nhiên, linh hồn của các anh vẫn hát mãi khúc quân hành.

Đọc thêm:  Dàn ý Thuyết minh về tấm gương học tốt của lớp em

Đặc sắc nhất của đoạn thơ không chỉ ở thủ pháp đối lập mà còn bộc lộ trong việc dùng từ và đặc biệt là dùng các động từ. Nhà thơ Vũ Quần Phương đã nhận xét: “Nội lực trong cảm hứng của thơ Quang Dũng thường dội xuống ở các động từ”. Động từ “gầm” trong câu thơ khiến cho âm hưởng cứ thế âm vang mãi như dội mãi vào trong núi rừng miền Tây và ngân lên trong tâm hồn độc giả. Cộng hưởng với động từ là các từ Hán – Việt (biên cương, viễn xứ, chiến trường, sông Mã và khúc độc hành). Nhà thơ đưa người đọc vào một không gian cổ kính, trang trọng. Tất cả thủ pháp nghệ thuật đó đã bộc lộ được sự hài hòa giữa cái bi và cái hùng tạo nên chất bi tráng ở trong bức tượng đài cao cả về người lính Tây Tiến.

Đây chính là đoạn thơ mang tính chất cao trào trong toàn bộ khúc độc hành của Tây Tiến. Chất bi tráng đã tạo nên một tượng đài độc đáo về những người lính Tây Tiến. Đoạn đã thơ khép lại nhưng cùng với khúc độc hành của dòng sông Mã, âm hưởng của Tây Tiến vẫn vang khắp cả núi rừng và vọng qua năm tháng.

6. Phân tích đoạn 3 Tây Tiến (mẫu 4)

Quang Dũng sinh năm 1921, mất năm 1988 là nghệ sĩ đa tài, có hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn, tài hoa, đặc biệt khi ông viết về người lính Tây Tiến và xứ Đoài quê mình. Trong sáng tác của ông thì Tây Tiến là bài thơ xuất sắc nhất, tiêu biểu cho đời thơ và phong cách sáng tác của ông. Bài thơ đã được viết bằng bút pháp lãng mạn, sự sáng tạo hình ảnh, ngôn ngữ, giọng điệu đã bộc lộ một nỗi nhớ sâu sắc da diết tác giả về những người chiến sĩ Tây Tiến anh dũng hào hoa và núi rừng miền Tây hùng vĩ, mĩ lệ. Có thể nói đây là nỗi nhớ da diết những người đồng đội Tây Tiến của tác giả Quang Dũng được lắng đọng trong tám câu thơ khắc họa lên bức chân dung người lính Tây Tiến:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

Tác phẩm Tây Tiến được in trong tập thơ “Mây đầu ô” và xuất bản năm 1986 nhưng trước đó được bao thế hệ người yêu thơ truyền tay tìm đọc. Tác giả sáng tác bài thơ từ năm 1948 tại làng Phù Lưu Chanh khi ông rời khỏi đoàn quân Tây Tiến chuyển sang hoạt động ở một đơn vị khác. Đơn vị quân đội Tây Tiến đã được thành lập năm 1947 có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào và bảo vệ biên giới Việt Lào, đánh tiêu hao sinh lực Pháp tại Thượng Lào và miền Tây Bắc bộ Việt Nam. Địa bàn hoạt động đoàn quân Tây Tiến khá rộng các chiến sĩ Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội, có nhiều học sinh và sinh viên, trong đó có Quang Dũng. Họ sống và chiến đấu hoàn cảnh gian khổ, thiếu thốn, bệnh sốt rét hoành hành nhưng khi đó vẫn lạc quan và chiến đấu anh dũng. Hoạt động được hơn một năm thì đơn vị Tây Tiến đã trở về Hoà Bình thành lập trung đoàn 52. Lúc đầu, nhà thơ đã đặt tên tác phẩm là Nhớ Tây Tiến, nhưng sau đó không lâu lại đổi lại là Tây Tiến. Bài thơ được sáng tác dựa trên nỗi nhớ, hồi ức và kỉ niệm của Quang Dũng về đơn vị cũ. Thế nên toàn bài thơ là nỗi nhớ cồn cào, tha thiết.

Bài thơ được đã tác giả chia thành bốn đoạn. Đoạn một bộc lộ nỗi nhớ lại những cuộc hành quân gian khổ nghèo đói của đoàn quân Tây Tiến và những khung cảnh thiên nhiên miền Tây hùng vĩ, dữ dội và hoang sơ. Đoạn hai là những kỉ niệm đẹp về tình quân dân trong những đêm liên hoan và những cảnh sông nước miền Tây thơ mộng. Đoạn ba tái hiện lên chân dung người lính Tây Tiến. Đoạn bốn là lời thề gắn bó với vùng núi Tây Tiến và miền Tây. Toàn bài thơ in đậm dấu ấn tài hoa, lãng mạn, phóng khoáng của tâm hồn thơ Quang Dũng. Với tài năng và tâm hồn ấy, tác giả Quang Dũng đã khắc hoạ thành công hình tượng người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp lãng mạn và đầy chất bi tráng trên cái nền cảnh thiên nhiên của núi rừng miền Tây hùng vĩ, dữ dội, mĩ lệ.

Nhớ Tây Tiến, tác giả Quang Dũng không chỉ nhớ núi rừng mà còn nhớ những người đồng đội cùng trèo đèo lội suối, vượt qua muôn ngàn những thử thách, vào sinh ra tử. Nhà thơ đã hồi tưởng và vẽ lại bức chân dung tuyệt đẹp của họ với vẻ đẹp đậm chất bi tráng. Quang Dũng chọn lọc những nét tiêu biểu nhất của những người lính Tây Tiến để tạc nên bức tượng đài tập thể, khái quát được những gương mặt chung của cả đoàn quân.

Người lính ấy phải sống trong điều kiện sinh hoạt và chiến đấu thiếu thốn nên:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm”

Hai câu thơ tiếp theo đã đề cập đến một hiện thực, đó là căn bệnh sốt rét hiểm nghèo người lính thường mắc phải. Nhà thơ Chính Hữu trong bài Đồng chí đề cập đến căn bệnh này: “Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh, Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi”. Tác giả Quang Dũng trong bài thơ cũng không che giấu đi những gian khổ, khó khăn, căn bệnh quái ác đó và sự hi sinh to lớn của người lính tây tiến, nhưng hiện thực nghiệt ngã ấy lại được nhìn qua một tâm hồn thật lãng mạn. Những cái đầu cạo trọc để thuận lợi cho việc đánh giáp lá cà và những mái đầu bị rụng tóc, vẻ xanh xao vì đói khát và vì sốt rét của người lính qua cái nhìn của Quang Dũng lại trở nên oai phong, dữ dằn và lẫm liệt như những con hổ chốn rừng thiêng.

Những người lính ấy một mặt đầy oai hùng ngạo nghễ, một mặt lại rạo rực tình yêu thương:

“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”.

Những chàng trai Tây Tiến với đôi mắt thao thức “trừng” lên quyết tâm hoàn thành đến cùng nhiệm vụ nhưng trái tim vẫn để dành chỗ cho những dáng kiều thơm chốn thiên bồng Hà thành, những người em, người bạn gái thân thương quê nhà. Quang Dũng với cái nhìn nhiều hướng, đã khắc hoạ lên chân dung người lính không chỉ ở dáng vẻ bên ngoài mà còn thể hiện thế giới nội tâm, tâm hồn mộng mơ lãng mạn và phong phú của họ.

Trong chiến tranh, mất mát hi sinh đó là điều không tránh khỏi. Quang Dũng cũng đã nêu lên hiện thực này không che giấu theo một cách riêng của ông:

“Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”.

Những từ Hán Việt cổ kính và trang trọng: “biên cương”, “mồ”, “viễn xứ” và “chiến trường” kết hợp với từ láy “rải rác” đã làm giảm nhẹ đi yếu tố bi thương, làm những đau thương vì mất mát đã lắng xuống. Điều nổi bật lên là vẻ đẹp lãng mạn của lí tưởng quên mình và xả thân vì Tổ quốc của người lính Tây Tiến. Cách nói “chẳng tiếc đời xanh” đã vang lên khẳng khái khẳng định vẻ đẹp hào hùng của những chàng trai Tây Tiến.

Hai câu thơ tiếp theo:

“Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

Đã nhắc đến một sự thật bi thảm: những người lính Tây Tiến đã gục ngã bên đường hành quân chiến đấu mà không có đến cả manh chiếu bó thân, qua cái nhìn Quang Dũng lại được bọc trong những tấm áo bào sang trọng đó mang dáng dấp của những tráng sĩ oai hùng thuở xưa và coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Cách nói giảm “anh về đất” làm đi cái bi thương, rồi bi ấy bị lấn át hẳn đi trong tiếng gầm thét dữ dội của dòng sông Mã. Tác giả Quang Dũng đã mượn âm thanh của dòng sông, của thiên nhiên, của hồn thiêng Tây Bắc để nói lời từ biệt và lời biết ơn ngợi ca đồng đội. Câu thơ đã mang âm hưởng vừa dữ dội, vừa hào hùng khiến cho sự hi sinh của người lính đã không hề bi lụy mà thấm đẫm tinh thần bi tráng. Bài thơ đã khép lại bằng bốn câu thơ có nhịp điệu chậm, giọng thơ buồn và những linh hồn của đoạn thơ vẫn toát lên vẻ hào hùng. Tác giả Quang Dũng cùng cả đoàn quân Tây Tiến nguyện thề “Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi” thể hiện quyết tâm gắn bó máu thịt đối với những ngày những nơi mà đoàn quân đã đi qua. Tây Tiến mùa xuân ấy đã trở thành một thời điểm một đi không ngày trở lại của lịch sử. Dân tộc sẽ không bao giờ lặp lại thời mơ mộng và lãng mạn hào hùng đến nhường đấy trong hoàn cảnh khó khăn, gian khổ, khốc liệt đến như vậy.

Đoạn thơ thứ ba có giọng điệu chủ đạo trang trọng, thể hiện tình cảm đau thương vô hạn và sự trân trọng và kính cẩn của nhà thơ trước sự hy sinh của đồng đội. Đoạn thơ với, những cảm hứng lãng mạn, ngòi bút sắc sảo, táo bạo và trên nền hiện thực nghiệt ngã đã chạm khắc chân dung tập thể của những người lính Tây tiến đậm chất bi tráng. Tác giả Quang Dũng qua khổ thơ này đã bộc lộ sâu sắc sự gắn bó, ám ảnh và ghi nhớ hình ảnh về đồng đội những ngày gian khổ nơi núi rừng miền tây.

Related Articles

Back to top button