Văn mẫu

Phân tích bài vợ chồng A Phủ

1. Sơ đồ tư duy phân tích bài vợ chồng A Phủ

Để các em có thể hình dung được bố cục phân tích bài vợ chồng A Phủ, VUIHOC gợi ý đến các em một mẫu sơ đồ tư duy. Các em cùng tham khảo mẫu sơ đồ này và nếu có thể thì nên tự thiết kế một sơ đồ tư duy cho riêng mình để có thể ghi nhớ những ý chính và phân tích tác phẩm một cách tốt nhất.

2. Lập dàn ý phân tích bài vợ chồng A Phủ

2.1 Mở bài

– Tô Hoài là nhà văn với lối trần thuật vui vẻ, hóm hỉnh, sở trường của ông là các thể loại truyện về phong tục hoặc hồi kí.

– Tác phẩm Vợ chồng A Phủ thuộc tập Truyện Tây Bắc, tác phẩm muốn phản ánh nỗi khổ của người dân Tây Bắc dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, đồng thời cũng ca ngợi lên vẻ đẹp của con người nơi đây.

2.2 Thân bài

1. Nhân vật Mị

a. Trước lúc làm con dâu gạt nợ

– Mị là cô gái dân tộc Mông vô cùng trẻ trung, hồn nhiên với tài thổi sáo. Mị đã từng yêu và luôn khao khát có được một tình yêu đúng nghĩa. Mị rất chăm chỉ, hiếu thảo và luôn ý thức được giá trị của cuộc sống tự do cho nên sẵn sàng đi làm nương ngô để trả nợ thay cho bố mình.

b. Từ lúc làm con dâu gạt nợ

– Nguyên nhân: món nợ truyền kiếp từ đời cha mẹ Mị, tục cướp vợ của dân tộc Mông đem về để cúng trình ma. Người lao động lúc ấy bị cả cường quyền lẫn thần quyền buộc chặt.

– Mị phải chịu vô vàn đày đọa về thể xác: phải làm việc liên tục không kể ngày đêm, sống khổ “không bằng con trâu con ngựa” ; bị đánh đập tàn nhẫn, dã man: bị trói và đạp vào mặt, …

– Mị dần dần trở nên chai sạn trước những nỗi đau ấy: từ một cô gái luôn vui vẻ, Mị giờ đây lại thành một cô gái lúc nào cũng mang một vẻ “mặt buồn rười rượi”, không còn quan tâm đến khái niệm thời gian (thể hiện qua hình ảnh “ô cửa sổ”), sống lầm lũi y như một “con rùa nuôi trong xó cửa”, “ở lâu trong cái khổ Mị quen rồi”.

– Tuy nhiên trong một đêm hội mùa xuân ở Hồng Ngài, sức sống ban đầu của Mị đã thực sự trỗi dậy:

+ Âm thanh của cuộc sống ngoài kia (tiếng trẻ con đang chơi quay, tiếng sáo gọi bạn tình, ..) đánh thức những kỉ niệm vui vẻ trong quá khứ.

+ Mị ý thức được rằng sự tồn tại của mình “phơi phới trở lại”, “Mị còn trẻ lắm …”, với khát khao về sự tự do, thắp sáng lên cả căn phòng tối, muốn “đi chơi tết” và chấm dứt cuộc sống tù đày này.

+ Khi bị A Sử trói, lòng Mị vẫn tư tưởng đến tiếng sáo, tiếng hát của tình yêu và đến những cuộc chơi. Lúc vùng dậy, cô chợt bừng tỉnh trở về với cuộc sống hiện thực.

– Nhận xét: Mị luôn luôn tiềm ẩn một sức sống mãnh liệt, sức sống ấy âm ỉ bên trong lòng người con gái Tây Bắc và chỉ đợi khi có cơ hội để bùng lên thật mạnh mẽ.

– Khi A Phủ làm mất bò và bị phạt trói đứng:

+ Ban đầu Mị cũng dửng dưng vì sau cái đêm tình mùa xuân thì cô lại trở về là cái xác không hồn.

+ Khi nhìn thấy được giọt nước mắt của A Phủ thì Mị lại rất đồng cảm, chợt nhớ tới hoàn cảnh của bản thân ở trong quá khứ, Mị lại biết thương bản thân và thương cho những kiếp người bị đày đọa như mình “có lẽ ngày mai người kia sẽ chết, chết đau, … phải chết”.

+ Bất bình trước sự độc ác của bọn thống lí, Mị đã cắt dây đay nhằm cởi trói cho A Phủ. Mị cũng sợ cái chết, sợ sự độc ác của nhà thống lí, cô chạy theo A Phủ để tìm đường thoát.

– Nhận xét: Mị là người con gái vừa lặng lẽ vừa mạnh mẽ, hành động của cô đã đạp đổ cường quyền lẫn thần quyền của lũ thống trị miền núi độc ác.

2. Nhân vật A Phủ

– Số phận: người mồ côi cả cha lẫn mẹ, không còn bất cứ người thân nào, lớn lên làm thuê kiếm sống, sau đó làm người ở gạt nợ cho nhà thống lí Pá Tra.

– Khi làm người ở gạt nợ:

+ Nguyên nhân: xô xát với con quan, thua cuộc trong một vụ xử kiện quái gở.

+ A Phủ cũng phải chịu đựng sự dày vò về mặt thể chất: phải làm nhiều công việc nặng nhọc và có phần nguy hiểm: “đốt rừng, cày nương, săn bò tót, …”, con người không có giá trị bằng một con bò, làm mất bò thì bị trói đứng đến khi chết.

– Tích cách:

+ Lúc nhỏ thì vô cùng mạnh mẽ và gan bướng: khi bị bán vào cánh đồng thấp lại trốn lên trên núi cao

+ Lớn lên lại là một chàng trai vừa khỏe mạnh lại chăm chỉ, tháo vát, biết làm tất cả công việc. Là người nhận thấy bất bình trước bất công (thông qua việc đánh A Sử), khao khát được sống cuộc đời tự do (nén nỗi đau để vùng chạy khi được Mị cắt dây trói).

– Nhận xét: A Phủ được nhìn từ phía bên ngoài với những lời nói rất ngắn gọn, hành động lại vô cùng dữ dội mạnh mẽ.

2.3 Kết bài

– Nghệ thuật: ngôn ngữ và cách nói đậm phong cách miền núi, lối trần thuật linh hoạt cùng sự dịch chuyển điểm nhìn trần thuật, miêu tả tâm lí nhân vật và hình ảnh thiên nhiên hết sức thành công.

-Tác phẩm chứa đựng nhiều giá trị nhân đạo rất sâu sắc: sự cảm thông với những số phận thống khổ của người dân chịu áp bức, lên án tội ác của bọn thống trị miền núi, bọn thực dân, đồng thời ngợi ca vẻ đẹp và sức sống tiềm ẩn trong mỗi con người miền núi Tây Bắc.

>>> Đăng ký ngay khóa học PAS THPT để được các thầy cô lên lộ trình ôn thi tốt nghiệp THPT sớm nhất nhé <<<

3. Hướng dẫn phân tích bài vợ chồng A Phủ

3.1 Phân tích bài vợ chồng A Phủ mẫu 1

Tô Hoài là một nhà văn vô cùng tài năng với rất nhiều thể loại, ông được coi là một cây bút văn xuôi hàng đầu trong nền văn học Việt Nam hiện đại. Ông được đánh giá là nhà văn của những sự thật đời thường, là người với vốn hiểu biết rất phong phú và sâu sắc về những phong tục tập quán ở nhiều vùng miền khác nhau. Trước khi Cách mạng xảy ra, ngòi bút của ông chủ yếu hướng đến vùng đất nông thôn nghèo cùng thế giới của loài vật. Sau Cách mạng, phong cách văn của ông lại có sự chuyển đổi, hướng tới những vùng đất nông thôn rộng lớn hơn, đặc biệt là vùng đất Tây Bắc.

Truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” chính là thành quả của chuyến đi công tác lên vùng núi Tây Bắc của ông. Tác phẩm đã phê phán và tố cáo chế độ phong kiến miền núi đang bóc lột, áp bức lên quyền sống và quyền hạnh phúc của người dân. Bên cạnh đó, tác phẩm cũng mang đến cho người đọc một tinh thần nhân đạo sâu sắc. Cảm thông trước những số phận đau thương của những người lao động nghèo khổ bất hạnh, bị tước đoạt đi cả quyền sống lẫn quyền tự do, bị hành hạ liên tục cả về thể xác lẫn tinh thần. Đồng thời còn trân trọng ngợi ca sức sống tiềm ẩn vô cùng mãnh liệt và luôn hướng tới một tương lai sau này tốt đẹp hơn.

Bằng kết cấu hồi tưởng, trần thuật ở thời điểm hiện tại sau đó lại ngược trở về quá khứ Tô Hoài đã xây dựng những dấu ấn cá nhân riêng biệt bằng lối kể chuyện đầy linh hoạt, sống động của mình. Trước khi trở thành dâu gạt nợ cho nhà thống lý Pá Tra, Mị đã là một cô gái vô cùng xinh đẹp, ngây thơ, yêu đời cùng với tài thổi sáo. Đặc biệt, Mị còn là cô gái với lòng tự trọng rất cao và luôn muốn được tự định đoạt cuộc đời của chính mình. Mị đã từng là ao ước của không biết bao nhiêu chàng trai trong làng. Thế nhưng cuộc đời lại không màu hồng và có nhiều trái ngang, nó đã xô đẩy Mị, làm ngược lại với mọi điều mà cô mong muốn. Chỉ vì muốn giúp cha mình trả món nợ truyền kiếp từ thời xa xưa mà Mị bỗng dưng làm dâu gạt nợ của nhà họ Lý kia. Bị ràng buộc bởi món nợ, Mị còn bị ràng buộc cả những hủ tục hôn nhân cổ hủ. Nỗi đau khổ chất đầy lên một cô gái trước đây đã từng ao ước về một cuộc sống được tự do, luôn luôn khát khao có được hạnh phúc thật sự. Chỉ đến đây thôi chúng ta cũng đã nhìn nhận được cái xã hội mà bọn lang đạo, bọn phong kiến miền núi đã bóc lột, đã tước đi quyền tự do của những con người lao động lầm than, nghèo khổ. Ba tiếng “dâu gạt nợ” như hé lộ cho người đọc thấy một cuộc đời chồng chất những đau khổ, những bi kịch mà Mị đã và đang phải gánh chịu.

Đọc thêm: 

Mị – một cô gái sinh ra vốn rất yêu đời, ngây thơ và tràn đầy sức sống như vậy, một người con hiếu thảo, nhận thức được giá trị của sự tự do nên đã xin phép cha lên làm nương để lấy tiền trả nợ, còn khẩn nguyện cầu xin “đừng bán con cho người giàu” nhưng chính vì sự đàn áp, vì những hủ tục lạc hậu mà cướp đi biết bao nhiêu ước mơ, hoài bão, vùi dập thanh xuân tươi đẹp và cuộc sống tự do của một cô gái. Mị đã bị A Sử cướp về để “cúng trình ma” nhà thống lí. Cuộc đời Mị từ đó luôn gắn liền với số phận đau khổ của người con dâu gạt nợ nhà thống lí. Cô cũng có phẫn uất, có thương xót cho chính số phận của mình. Đau khổ cùng cực lắm nên Mị đã từng có ý định tự tử bằng lá ngón nhưng cô lại “không đành lòng chết” vì còn thương cha, muốn hoàn thành đạo làm con. Có lẽ chết đi chính là cách tốt nhất để Mị có thể giải thoát cho cuộc đời nô lệ lầm than của mình, sẽ không còn xót xa hay căm hờn bất cứ thứ gì nữa nhưng nếu chết rồi thì cha vẫn phải trả nợ cho chúng, nên cô lại ngậm ngùi ôm chặt nỗi tủi nhục mà tiếp tục sống.

Từ thái độ phản kháng vô cùng kịch liệt, Mị đã cam chịu và chấp nhận hoàn cảnh của mình. Lâu dần nên Mị cũng quen được với cái khổ, cuộc sống của Mị còn được ví không bằng con trâu, con ngựa, phải làm việc quần quật cả ngày lẫn đêm không được giờ phút nghỉ ngơi nào. Mọi công việc trong gia đình họ như hái thuốc phiện, quay sợi, giặt đay, xe đay, bẻ bắp, dệt vải, chẻ củi, cõng nước,… cứ nối tiếp nhau “vẽ ra trước mặt” để bắt buộc cô phải làm. Cả ngày Mị chẳng nói năng gì, lúc nào cũng cúi gằm mặt y như “con rùa nuôi trong xó cửa”. Càng ngày, Mị lại càng trở nên câm lặng và chấp nhận số phận, cam chịu trước cuộc sống đầy dẫy những bất công mà không một lời kêu ca, oán trách. Đau đớn về cả thể xác lẫn tinh thần cũng bí bách khôn nguôi, còn gì buồn hơn việc lấy chồng mà chồng lại không phải là người mà mình thương yêu, đến một sự sẻ chia, lời an ủi cũng không có, chứ nói gì đến việc có người bạn đời tâm tình những lúc chán nản, mệt mỏi. Thật đau đớn làm sao cho những kiếp người dân nghèo khổ, bất hạnh với biết bao nỗi bất công nhưng vẫn không thể chống cự, tuyệt vọng ngập tràn. Mọi thứ đổ dồn lên người, nên lúc này đây, Mị cũng đang phó mặc, buông bỏ số phận của mình theo thời gian. Đọc những dòng miêu tả Mị lúc đó, chúng ta cảm thấy đồng cảm và xót thương cho số phận con người và cũng căm phẫn bọn thống trị miền núi thật nhiều. Xót thương với số phận tăm tối khổ sở của nàng, căm phẫn trước cái chế độ tàn ác đầy rẫy sự bất công của xã hội cũng đã đẩy con người ta đến con đường cùng vô cùng tăm tối.

Những tưởng rằng Mị đã hoàn toàn vô cảm trước thế giới bên ngoài, nhưng chính cảnh sắc của thiên nhiên Tây Bắc vào mùa xuân và những âm thanh vang vọng từ sáo đã đánh thức, khơi dậy sự yêu đời, sức sống đã từng bị vùi lấp trong con người của Mị. Tiếng sáo ấy cũng đánh thức được tâm hồn đã bị ngủ quên của Mị bấy lâu nay. Mị cảm nhận được những âm hưởng ‘thiết tha bồi hồi” trong tiếng sáo gọi bạn đi chơi ngoài lễ hội. Không khí trở nên nhộn nhịp, náo nức trong những ngày Tết khiến Mị như được “sống về những ngày trước”. Mị đã lén uống rượu, “uống ừng ực từng bát” như muốn đem hết những nỗi phẫn uất vào trong. Tâm hồn Mị bỗng trở nên “phơi phới trở lại”. Điều đặc biệt là Mị đã nhận thức được bản thân, cô đã nhận ra rằng mình vẫn còn rất trẻ và vẫn muốn được đi chơi ngoài kia trong những ngày Tết. Từ mong muốn đó chuyển thành hành động, Mị thắp đèn lên và chiếu sáng cả căn phòng tối tăm kia, quấn lại đầu tóc gọn gàng rồi lấy cái váy hoa đã được sửa soạn để đi chơi. Hành động thắp sáng căn phòng của Mị cũng giống như thắp sáng một lần nữa cuộc đời của Mị. Tâm hồn Mị đã thực sự sống lại và muốn vùng vẫy nhằm thoát ra vòng áp chế của các thế lực cường quyền lẫn thần quyền và cả phụ quyền. Nhưng trớ trêu thay, đó cũng chỉ mới là ý định mà thôi, Mị chưa kịp thực hiện dự định ấy thì đã bị A Sử phát hiện ra và đem cô trói vào cột nhà bằng cả thúng sợi đay. Nhưng lúc đó, tâm hồn Mị vẫn còn tư tưởng đến tiếng sao mà quên đi nỗi đau về thể xác đến khi nghe thấy tiếng chân ngựa đạp vào vách thì Mị mới bừng tỉnh về về thực tại. Làm dâu con nhà giàu nhưng thân phận của Mị chẳng ra gì, thậm chí còn không bằng được con trâu, con ngựa.

Là một người sống lặng lẽ, âm thầm và cam chịu là vậy nhưng ẩn sâu bên trong tâm hồn là một sức sống tiềm ẩn vô cùng mãnh liệt. Điều ấy được thể hiện rất rõ qua hành động Mị đã cắt dây trói để giải cứu A Phủ và theo anh trốn khỏi Hồng Ngài. Đây cũng là hành động tự giải thoát cho chính số phận của mình. Nó xuất phát từ sự đồng cảm, thương người như thể thương thân. Mị đã tự giải thoát được cuộc đời của mình khỏi ách áp bức, bóc lột của cả cường quyền lẫn thần quyền. Hành động ấy tuy có chút tự phát nhưng nó lại rất hợp lý.

Không chỉ khắc họa lên số phận bèo bọt, bất hạnh của người phụ nữ, Tô Hoài còn khắc họa được số phận của người đàn ông miền núi đã phải chịu những sự bất công ngay trong xã hội đó. Đó chính là A Phủ – một chàng trai nghèo khổ, vốn mồ côi cả cha lẫn mẹ từ khi còn bé lại chẳng còn người thân. Khi còn nhỏ, A Phủ đã trở thành món đồ để đổi lấy thóc của người Thái nhưng anh lại là một người vô cùng gan bướng, không chịu sống dưới cánh đồng thấp, nên đã lẻn trốn lên núi và bị lưu lạc đến Hồng Ngài. Tuy cuộc sống còn nghèo khó nhưng A Phủ đã tự biết lao động, chăm chỉ làm lụng nhằm nuôi sống chính mình. Anh biết làm và thông thạo tất cả công việc từ đúc lưỡi cày, cày giỏi, đục cuốc và còn đi săn bò tót rất bạo. Vì thế mà A Phủ là mong muốn của rất nhiều cô gái và họ còn ví anh là “con trâu tốt trong nhà, chẳng mấy lúc mà giàu”. A Phủ còn là một người tốt bụng, có sự gan bướng, biết vượt qua mọi khó khăn và nhận thấy bất bình trước những sự bất công. Trước sự hống hách và ngạo mạn của A Sử – con trai nhà thống lý, A Phủ sẵn sàng ra tay để đòi lại công bằng, anh đánh cho A Sử một trận nhừ tử, và cũng chính vì lý do này mà A Phủ đã bị bắt và phải là con nợ làm thuê để trả nợ từng ngày cho nhà thống lý.

Đọc thêm:  Cảm nhận 2 khổ thơ đầu bài viếng lăng bác

A Phủ đánh A Sử không phải vì anh hiếu chiến, ngang tàn mà là vì anh không thể chấp nhận được sự bất công trong xã hội, sự thống trị cũng như sự lên ngôi của cái ác. Sự áp chế của cường quyền đã đẩy con người yêu thích sự tự do, phóng khoáng như A Phủ trở thành một con người phải cam chịu số phận khốn khổ của mình. Anh cũng chấp nhận cuộc sống ở đợ để trừ nợ cho nhà thống lí. Chỉ vì một lần mải mê bẫy nhím mà A Phủ đã vô tình để hổ bắt mất một con bò. Vì vậy mà A Phủ đã nhà thống lý phạt bằng cách trói đứng vào cột nhà đến chết. Chịu những trận đòn roi đau đớn đến chết đi sống lại, thấy vô cùng thương xót cho số phận của mình, A Phủ đã không thể cầm lòng mà rơi nước mắt. Cũng chính yếu tố này đã lay động được tình thương, sự đồng cảm của Mị. Và cuối cùng Mị đã quyết định chính tay cắt dây trói để cứu A Phủ. Hành động “quật sức vùng lên chạy” đã phần nào bộc lộ khát vọng sống, muốn chấm dứt thân phận đi ở trừ nợ, khát vọng được sống tự do của anh mãnh liệt biết bao nhiêu. Mị xin A Phủ cho đi cùng, cả hai đã cùng nhau trốn ra khỏi Hồng Ngài, thoát khỏi nơi đã giam giữ cả thể xác lẫn tinh thần của họ. Và cuối cùng họ đã thức tỉnh và tìm đến con đường cách mạng, con đường duy nhất để giải thoát họ và tìm đến sự tự do.

“Vợ chồng A Phủ” đã mang đến cho độc giả những giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo vô cùng sâu sắc.Thông qua tác phẩm này, nhà văn Tô Hoài muốn lên án chế độ phong kiến thời bấy giờ và giai cấp thống trị đã bóc lột thể xác và tinh thần của con người bằng hình thức hiện nay gọi là cho vay nặng lãi. Vì món nợ truyền kiếp của cha mẹ mà Mị đã bị coi vật thế mạng. Đồng thời ông cũng tố cáo những hủ tục lạc hậu, cổ hủ như “cúng trình ma” đã buộc người dân tin phải mê tín, khiến họ không dám vùng lên, thoát ra vòng vây đau khổ để tự cứu lấy bản thân mình. Ngoài ra, nhà văn cũng thể hiện rõ nét lòng thương xót và cảm thông trước những số phận của những người nông dân lao động miền núi phải chịu không biết bao nhiêu áp bức, bóc lột từ tầng lớp thống trị thủ đoạn và tàn ác. Từ đó cũng ca ngợi lên sức sống mãnh liệt tiềm ẩn bên trong mỗi con người họ. Chính sức sống mãnh liệt ấy đã giúp giải thoát cuộc đời của họ và tìm đến được cách mạng, hướng tới cuộc sống tự do.

Bằng bút pháp cá thể hóa, nhà văn gây dựng thành công hình tượng của hai nhân vật Mị và A Phủ – nhân vật đại diện cho tầng lớp những con người lao động nghèo, mang trong mình những phẩm chất tốt đẹp nhưng phải chịu số phận vô cùng bất hạnh, đau thương. Mị đại diện cho kiểu nhân vật tâm trạng còn A Phủ thì đại diện cho kiểu nhân vật hành động. Làm nền cho sự nổi bật về những con người ấy trong truyện là bức tranh gợi tả cảnh sắc thiên nhiên Tây Bắc thật tươi đẹp: “gió thổi vào gianh vàng ửng” và “trong các làng Mèo Đỏ, những chiếc váy hoa đã đem ra phơi trên những mỏm đá xòe như con bướm sặc sỡ”. Những câu văn luôn khơi gợi tạo hình. Cùng với đó là những phong tục, tập quán thường thấy của người miền núi như tục lệ bắt vợ, cảnh phạt vạ hay cảnh xử kiện quái gở cũng được hiện lên một cách độc đáo. Truyện được kể dựa vào ngôi thứ ba, với điểm nhìn trần thuật có sự chuyển đổi từ điểm nhìn của người đi xa về tới điểm nhìn của những người trong cuộc vì thế nó vừa mang tính chất khách quan lại vừa chứa chan nỗi niềm cảm thông với nhân vật. Ngôn ngữ văn xuôi lại mang đậm chất thơ cũng là một yếu tố quan trọng để tạo nên sự lôi cuốn và sức hấp dẫn cho tác phẩm.

Với truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ”, Tô Hoài đã đem đến cho người đọc một cái nhìn thật bao quát, toàn diện hơn về bức tranh vẽ nên cuộc sống của người dân vùng núi Tây Bắc. Trang văn này tuy đã khép lại nhưng dư âm của nó thì còn lưu lại mãi trong tâm trí. Tuy nhà văn Tô Hoài đã ra đi nhưng những tác phẩm, những giá trị nhân văn của ông thì vẫn còn vẹn nguyên giá trị trong lòng người đọc trong hôm nay và cả mai sau nữa.

>>> COMBO sổ tay kiến thức các môn học giúp các em học sinh dễ dàng học thuộc, tra cứu trong quá trình làm bài tập <<<

3.2 Phân tích bài vợ chồng A Phủ mẫu 2

“Vợ chồng A Phủ” là một trong những tác phẩm vô cùng xuất sắc và nổi tiếng của nhà văn Tô Hoài. Truyện ngắn chính là kết quả của 8 tháng hoạt động chiến dịch Tây Bắc, sống và gắn bó với đồng bào dân tộc miền núi của nhà văn. Có thể nói, “Vợ chồng A Phủ” là một bức tranh chân thực nhất về cuộc sống đời thường của người dân lao động vùng núi dưới ách thống trị tàn ác của bọn thực dân phong kiến.

Về nội dung, “Vợ chồng A Phủ” chính là sự lên án đanh thép về chế độ thực dân nửa phong kiến. Truyện đã phản ánh hết sức chân thực mâu thuẫn giữa các giai cấp đang trở nên căng thẳng và cuộc sống lầm than của nhân dân lao động nghèo ở miền núi Tây Bắc. Tác phẩm mở đầu với lời kể về hoàn cảnh của nhân vật Mị: “Ai ở xa về, có dịp vào nhà thống lí Pá Tra thường trông thấy có một cô gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa/ Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi”. Vẻ âm thầm và buồn bã với công việc vô cùng vất vả của Mị hoàn toàn trái ngược với sự giàu sang, hưởng thụ của gia đình nhà thống lý. Bằng cách mở đầu đầy nghịch lí như thế, Tô Hoài đã gợi lên sự tò mò nơi độc giả đồng thời cũng hé lộ số phận đau thương của Mị khi ở nhà chồng.

Trước khi làm dâu nhà thống lí Pá Tra, Mị đã từng là một cô gái Dân tộc Mông xinh đẹp, hiếu thảo và tài hoa. Tiếng sáo của Mị đã khiến không biết bao nhiêu trai bản “đứng nhẵn cả chân vách buồng”. Nhưng, chỉ vì nghèo khổ, không trả đủ tiền cho nhà thống lí mà Mị đã bị bắt đi làm dâu gạt nợ. Từ đây, tất cả những hi vọng về hạnh phúc, về tương lai tươi đẹp của cô đã bị vụt tắt. Là con nợ, trả nợ xong thì thôi nhưng ở đây Mị còn có vai trò là một cô con dâu. Một cổ 2 gông, tất cả đã xô đẩy cuộc đời Mị vào một vòng tuần hoàn của những nỗi vất vả và khổ đau.

Khi bị bắt, đêm nào Mị cũng nằm khóc, cũng vì đau khổ quá mà có lần cô trốn về nhà với ý định ăn lá ngón tự tử. Qua những chi tiết đó, ta thấy được rằng tinh thần phản kháng của Mị rất quyết liệt, cô không muốn chấp nhận số phận hèn mạt này. Ý định tìm đến cái chết không phải là biểu hiện của sự đầu hàng mà là tiếng nói phản kháng vô cùng mạnh mẽ của một con người luôn có khát khao được tự do và hạnh phúc.

Đọc thêm:  Tổng hợp 50 bài Miêu Tả con mèo (hay nhất)

Đối với Mị, làm dâu cho nhà thống lí Pá Tra còn kinh sợ hơn cái chết, bởi vì ở đó, cô không được đối xử giống như con người, không được lên tiếng để quyết định cuộc đời của mình, không có sự tự do cũng không có hạnh phúc như cô hằng ao ước. Nhưng vì lòng hiếu thảo, Mị lại chấp nhận số phận và tiếp tục sống để chịu đựng: “Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi. Bây giờ thì Mị tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa…”.

Từ một người con gái luôn tràn đầy sức sống, Mị giờ đây được ví như “con rùa nuôi trong xó cửa”. Hình ảnh căn buồng của Mị nằm với chiếc “cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay/ Lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng” không khác gì một nhà giam không những giam giữ thân xác mà còn giam giữ cả tâm hồn Mị. Đó cũng chính là hiện thực đầy bất công của những người dân nghèo khổ dưới ách thống trị hà khắc của bọn địa chủ phong kiến. Họ không chỉ bị tước đoạt đi sự tự do về thân thể, mà tinh thần họ cũng bị trói lại bởi những tục lệ cổ hủ.

Giữa bức tranh đen tối ấy, đêm tình mùa xuân kết hợp với tiếng sáo gọi bạn réo rắt như một làn gió mới làm bùng cháy lên ngọn lửa của tình yêu thương, khát vọng được sống tiềm ẩn ngỡ như đã vụt tắt. Tiếng sáo được tác giả Tô Hoài miêu tả nhiều lần với mọi khung bậc khác nhau: “Ngoài đầu núi…thổi”, “Tai Mị… gọi bạn”, “Trong đầu… sáo”, “Tiếng sáo… chơi”. Tiếng sáo gợi về những kỉ niệm, tiếng sáo thôi thúc Mị rằng phải tìm đến niềm hạnh phúc, thương yêu.

Thế nhưng, A Sử lại xuất hiện và cướp đi khát vọng sống trong Mị, hắn “lấy thắt lưng trói hai tay Mị. Nó xách cả thúng sợi đay ra trói đứng Mị vào cột nhà. Tóc Mị xõa xuống. A Sử quấn luôn tóc lên cột, làm cho Mị không cúi, không nghiêng được đầu nữa”. Sự lạnh lùng và tàn bạo của A Sử đối với Mị không phải là một trường hợp xa lạ, từng có người đàn bà cũng đã bị trói lại đến chết trong căn nhà này. Đến đây, bức tranh về sự tàn nhẫn, dã man của bọn địa chủ phong kiến được hiện lên một cách rõ nét. Đối với chúng, mạng sống của con người chẳng khác gì mang sống của những con trâu, con ngựa.

Bên cạnh hình tượng và hoàn cảnh của nhân vật Mị là nhân vật A Phủ, một thanh niên mồ côi cả cha lẫn mẹ từ nhỏ, tuy nhiên lại lao động rất giỏi “chạy nhanh như ngựa, con gái trong làng nhiều người mê”. Vì đánh con quan, A Phủ đã bị phạt và từ đó sống dưới thân phận nô lệ cho nhà thống lí. Có thể thấy, dù là một chàng trai mạnh mẽ, gan góc nhưng cuối cùng, A Phủ cũng giống Mị, không thể thoát khỏi bàn tay độc ác của bọn địa chủ phong kiến, đại diện ở đây là nhà thống lí Pá Tra.

Ở trong gia đình thống lí Pá Tra, sinh mạng của người dân nghèo được coi không bằng cả mạng sống của súc vật. Chỉ vì một lần sơ ý làm mất bò, A Phủ bị trói đứng giữa một buổi trời đông lạnh lẽo. Và giọt nước mắt của anh chính là giọt nước mắt của bộc lộ những đắng cay phải chịu, sự bất lực và tuyệt vọng. Đây được đánh giá là một chi tiết vô cùng đắt giá. Giọt nước mắt ấy cũng thể hiện được tâm trạng tuyệt vọng của A Phủ đồng thời cũng làm khơi gợi niềm đồng cảm, xót thương và đánh thức sức sống ngỡ đã chai sạn của Mị.

Hoàn cảnh của A Phủ làm Mị nhớ đến đêm mùa xuân cô cũng bị A Sử trói vào cột nhà. Cô chợt cảm thấy đồng cảm cho chàng trai tội nghiệp ấy, đồng thời xót thương cho hoàn cảnh của chính mình. Dòng nước mắt của A Phủ như thổi bùng lên khát vọng sống của Mị mà lâu nay bị ách thống trị phong kiến phủ kín. Hành động Mị cắt dây trói để giải thoát cho A Phủ và chạy trốn nhà thống lí Pá Tra bộc lộ sự trỗi dậy của sức sống tiềm ẩn, khao khát được sống tự do hạnh phúc của những con người bị áp bức, bóc lột.

Có thể nói rằng, bằng chính tài năng tuyệt vời của mình, Tô Hoài đã gây dựng nên những hình tượng nhân vật hết sức chân thực và sống động. Nếu Mị là hình tượng đại diện cho phụ nữ miền núi nước ta giai đoạn trước Cách mạng đến những năm kháng chiến chống Pháp thì A Phủ mang nét đẹp đại diện cho những thanh niên dân tộc miền núi Tây Bắc rất thật thà, chất phát tuy có bị cuộc sống xô đẩy vào số phận khổ đau nhưng không bao giờ từ bỏ khát vọng tự do.

Bên cạnh bức tranh về hiện thực tội ác của giai cấp thống trị cùng cuộc sống lầm than của nhân dân miền núi, tác phẩm còn là một bài ca thể hiện tình người, bài ca về những khát vọng được sống cuộc đời tự do. Hành động dám cắt đứt dây trói, chạy trốn khỏi nhà thống lí và đứng dưới lá cờ Cách mạng của nhân vật Mị và A Phủ chính là sự bừng tỉnh của những con người không đầu hàng trước số phận hẩm hiu. Tác giả đã bày tỏ rõ ràng sự đồng cảm, xót thương nhưng cũng đầy sự tự hào, ngợi ca khi viết về con người họ và cuộc đời của họ. Đó cũng chính là giá trị nhân đạo đặc sắc mà tác giả muốn truyền đạt trong tác phẩm này.

Về nghệ thuật, tác phẩm cho thấy được tài năng trong việc dẫn chuyện cũng như miêu tả tâm lí nhân vật của tác giả Tô Hoài. Đặc biệt, dưới ngòi bút miêu tả độc đáo, Tô Hoài cũng đã phác họa cho người đọc một cuộc xử kiện hết sức sống động và đầy sức tố cáo, từ đó vạch trần ra sự áp bức dã man, tàn bạo của bọn thống trị miền núi. Qua giọng kể lúc thì khách quan, lúc thì nhập tâm vào nhân vật, cùng ngôn ngữ hết sức sinh động, được chọn lọc và mang tính sáng tạo, bức tranh về thiên nhiên tuyệt đẹp và cuộc sống sinh hoạt thường ngày của người dân Tây Bắc đã được bộc lộ vô cùng chân thật và xúc động.

Tóm lại, có thể khẳng định rằng, “Vợ chồng A Phủ” là một trong những tác phẩm chuẩn mực và nổi tiếng nhất khi viết về chủ đề thiên nhiên và con người miền núi. Qua “Vợ chồng A Phủ”, Tô Hoài đã càng khẳng định thêm tên tuổi của mình trong văn đàn đồng thời in sâu những hình ảnh ấy trong lòng người đọc các thế hệ.

>>> Lộ trình ôn tập hoàn hảo giành điểm 9+ các môn thi tốt nghiệp chỉ trong một khóa học PAS THPT<<<

Trong những ngày công tác Tây Bắc, Tô Hoài đã phản ánh cuộc sống hà khắc, chèn ép của chế độ miền núi với người dân nơi đây. Họ không được làm chủ quyền sống, quyền hạnh phúc của bản thân và tác giả rất đồng cảm với nỗi những số phận lầm than ấy. Qua phân tích bài Vợ chồng A Phủ, VUIHOC hy vọng rằng các em có thể phần nào nắm được những nghệ thuật và ý nghĩa nhân đạo sâu bên trong. Để tiếp thu thêm những kiến thức bổ ích cũng như các bài tham khảo Soạn văn 12 và những môn học khác, các em hãy nhanh tay truy cập vào website vuihoc.vn hoặc đăng ký các khoá học cùng các thầy cô VUIHOC ngay nhé!

>> Mời các em tham khảo thêm: Soạn bài Vợ chồng A Phủ

Related Articles

Back to top button